Từ thiếu tài sản đảm bảo, phương án kinh doanh thiếu khả thi đến tiêu chuẩn tín dụng khắt khe,... đã tạo nên “rào cản” với các doanh nghiệp muốn tiếp cận nguồn vốn.
Nhận diện điểm nghẽn
Theo số liệu công bố, đến cuối tháng 9/2026, dư nợ các thành phần kinh tế tại Đà Nẵng ước đạt 469.390 tỷ đồng, tăng 4,45% so với cuối năm 2025. Qua đánh giá, tín dụng tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Cơ cấu tín dụng ngành kinh tế tại địa bàn TP Đà Nẵng có sự phân hóa rõ nét ở 3 nhóm ngành, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội thành phố đang thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ chủ lực. Tỷ trọng dư nợ lớn lần lượt từ ngành thương mại và dịch vụ; ngành công nghiệp và xây dựng; ngành nông, lâm, thủy sản.

Dù dư nợ tăng, tuy nhiên cộng đồng doanh nghiệp Đà Nẵng hiện vẫn đang gặp khó trong việc tiếp cận nguồn vốn. Và không chỉ là thiếu vốn hay lãi suất cao, mà quan trọng hơn là khả năng tiếp cận khoản vay phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Qua tổng hợp, ông Phạm Bắc Bình – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Đà Nẵng cho biết phần lớn doanh nghiệp có phương án kinh doanh nhưng thiếu tài sản bảo đảm, đây là một trong những điểm nghẽn lớn nhất. Theo ông Bình, đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa là tài sản nằm ở hàng hóa, khoản phải thu, dòng tiền, hợp đồng đầu ra, thương hiệu, dữ liệu và năng lực kinh doanh, trong khi tài sản thế chấp truyền thống lại hạn chế.
“Theo khảo sát được công bố gần đây, 75,5% doanh nghiệp cho biết không thể tiếp cận khoản vay nếu không có tài sản bảo đảm. Hiệp hội không đề nghị ngân hàng hạ chuẩn tín dụng. Chúng tôi đề nghị ngân hàng từng bước chuyển từ tư duy “có tài sản mới cho vay” sang “đánh giá tổng thể khả năng trả nợ của doanh nghiệp”, ông Bình đề xuất.
Tiếp đến, ông Bình dẫn chứng vấn đề nhiều doanh nghiệp có hoạt động tốt nhưng hồ sơ tài chính chưa đủ “chuẩn ngân hàng”. Theo đó, một số doanh nghệp nhỏ và vừa còn tình trạng kế toán chưa chuẩn hóa, dòng tiền cá nhân và doanh nghiệp chưa tách bạch, báo cáo tài chính chưa phản ánh đầy đủ hoạt động, chưa có kế hoạch dòng tiền...
Hiện nay, doanh nghiệp rất cần vốn lưu động theo chu kỳ kinh doanh chứ không chỉ cần một khoản vay. Nhiều doanh nghiệp hiện nay có đơn hàng, có hợp đồng đầu ra nhưng phải ứng trước tiền để mua nguyên liệu, sản xuất và chờ khách hàng thanh toán 60–90 ngày. Vì vậy, nếu ngân hàng chỉ nhìn vào tài sản thế chấp thì có thể bỏ qua một nguồn trả nợ rất quan trọng là dòng tiền từ chính hợp đồng kinh doanh.
“Chúng tôi kiến nghị các ngân hàng phát triển mạnh hơn các sản phẩm như tài trợ theo hợp đồng đầu ra, tài trợ khoản phải thu, tài trợ hóa đơn, tài trợ nhà cung cấp, tài trợ hàng tồn kho... Đồng thời, hạn mức tín dụng có thể quay vòng theo dòng tiền, đặc biệt, đối với doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp lớn, chúng tôi đề nghị nghiên cứu cơ chế đánh giá dựa trên “sức khỏe của cả chuỗi”, thay vì chỉ đánh giá riêng doanh nghiệp nhỏ”, ông Bình cho biết.
Cần thêm giải pháp “mở khóa” tín dụng
Theo nhiều doanh nghiệp, hiện nay chính sách tín dụng đã có nhưng doanh nghiệp không phải lúc nào cũng biết mình có thể tiếp cận hay không. Ngân hàng Nhà nước đã triển khai chương trình tín dụng hướng tới doanh nghệp nhỏ và vừa từ tháng 8/2026, trong đó khoản vay thuộc chương trình có lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng cho vay; đối tượng còn bao gồm nhiều lĩnh vực ưu tiên như công nghệ cao, kinh tế số, AI, công nghiệp hỗ trợ, xuất khẩu và các dự án xanh.
Đây là chính sách rất tích cực nhưng vấn đề ở cơ sở là doanh nghiệp nhỏ thường không biết đang thuộc chương trình nào, vay ở đâu, điều kiện cụ thể là gì... Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng đề nghị tăng khả năng tiếp cận vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao năng lực sản xuất. Nếu chỉ giải quyết vốn lưu động thì doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động, nhưng rất khó nâng cấp quy mô và năng lực cạnh tranh.

Một vấn đề khác, ông Trần Quốc Bảo – Ủy viên BCH VCCI, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP Đà Nẵng cho biết các doanh nghiệp bất động sản đang gặp vướng mắc liên quan đến nguồn vốn tín dụng và các thủ tục pháp lý kéo dài. Thông tin từ ông Bảo, dù chính quyền địa phương đã rất quyết liệt trong việc tháo gỡ các vướng mắc, các doanh nghiệp vẫn rơi vào cảnh thiếu hụt dòng tiền thanh khoản nghiêm trọng.
“Để giải quyết triệt để tình trạng này, các tổ chức tín dụng cần giảm bớt các điều kiện tín dụng khắt khe đối với những dự án đã bị đình trệ lâu năm là vô cùng cấp thiết. Bên cạnh đó, việc thiết lập biên bản cam kết ba bên giữa chủ đầu tư, ngân hàng và chính quyền đóng vai trò then chốt trong việc minh bạch hóa và đảm bảo dòng tiền giải ngân hiệu quả”, ông Bảo đề xuất.
Cũng theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP Đà Nẵng, thành phố cũng cần triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất từ 1 đến 3% từ ngân sách địa phương và nguồn vốn quốc tế để đồng hành cùng doanh nghiệp. Song song với đó, việc mở rộng danh mục đầu tư thông qua quỹ phát triển của thành phố sẽ tạo thêm nguồn lực tài chính an toàn, giúp cộng đồng doanh nghiệp vượt qua khủng hoảng và phục hồi sản xuất.
Thông tin về vấn đề này, ông Lê Anh Xuân - Giám đốc Ngân hàng Nhà nước khu vực 9, cho hay các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã triển khai chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp thông qua nhiều hình thức, quy mô đa dạng, các hội nghị của ngành và thành phố nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. Thông qua chương trình, lũy kế từ đầu năm đến cuối quý III/2026 các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố đã giải ngân cho vay mới 23.500 tỷ đồng, dư nợ cuối kỳ ước đạt 42.300 tỷ đồng với hơn 2.000 doanh nghiệp; cơ cấu lại thời hạn trả nợ và thực hiện hỗ trợ bằng các hình thức khác như giảm lãi suất, phí,... cho 14 doanh nghiệp với dư nợ hỗ trợ tương ứng 400 tỷ đồng.
Ông Xuân thông tin về một số khó khăn trong hoạt động tín dụng như lãi suất huy động đầu vào tăng, kéo theo lãi suất cho vay tăng, qua đó tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng. Đồng thời, tăng trưởng tín dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thấp hơn mặt bằng chung cả nước, dư nợ tín dụng lĩnh vực bất động sản tuy giảm so với cuối năm 2025 nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trên tổng dư nợ...
Ngoài ra là các vấn đề về khả năng hấp thụ vốn của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tại địa bàn thành phố, khu vực doanh nghiệp có sự phục hồi nhưng chưa đồng đều, trong đó số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng, đồng thời số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giải thể vẫn ở mức cao. Điều này phản ánh doanh nghiệp còn gặp khó khăn về thị trường đầu ra, dòng tiền, lao động, mặt bằng và khả năng duy trì hoạt động, từ đó làm giảm nhu cầu vay vốn hoặc khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng.
Thời gian tới, ông Xuân đề xuất TP Đà Nẵng chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tăng cường phối hợp với các tổ chức tín dụng trong việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là các doanh nghiệp đang tạm ngừng hoạt động nhưng có khả năng khôi phục.
Đối với các doanh nghiệp, cần chủ động nâng cao năng lực tài chính, quản trị và minh bạch thông tin; chuẩn hóa kế toán, báo cáo tài chính, quản lý dòng tiền và phương án sản xuất kinh doanh. Trong quan hệ với các tổ chức tín dụng cần cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về hợp đồng đầu ra, dòng tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản và phương án trả nợ, qua đó tạo cơ sở để tổ chức tín dụng đánh giá đầy đủ khả năng trả nợ.
Đối với các dự án đang có vướng mắc pháp lý, doanh nghiệp cần chủ động phối hợp với cơ quan chức năng hoàn thiện các thủ tục về đầu tư, đất đai, xây dựng và nghĩa vụ tài chính. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng.