Những dấu ấn của nguyên Phó Thủ tướng, Chủ tịch VCCI Đoàn Duy Thành
Thanh Tâm•27/04/2026 15:03
Cuộc đời con người có điểm khởi đầu và kết thúc, nhưng giá trị của sự sống không dừng lại ở đó. Con người có thể ra đi, nhưng những dấu ấn họ để lại vẫn bền bỉ hiện diện và lan tỏa theo thời gian.
Một trong những điển hình về triết lý đó được thể hiện qua cuộc đời của nguyên Phó Thủ tướng Đoàn Duy Thành. Ông sinh ngày 15 tháng 09 năm 1929 tại thôn Tường Vu, xã Lai Khê, thành phố Hải Phòng. Trong suốt cuộc đời gần 100 năm tuổi, ông là người chồng, cha mẫu mực trong gia đình và đặc biệt với vai trò là Chủ tịch Đoàn tộc Việt Nam, ông đã xây dựng nhà họ Đoàn cả nước tại xã Gia Lộc, Hải Phòng. Ông tham gia cách mạng từ trước năm 1945, trong 80 năm tuổi Đảng của mình, ông Đoàn Duy Thành đã để lại những dấu ấn đậm nét trong suốt các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và đặc biệt là trong công cuộc đổi mới của Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ 20. Các nhà nghiên cứu kinh tế - xã hội đã khẳng định những dấu ấn lớn nhất trong cuộc đời đầy gian khổ nhưng cũng đầy cống hiến và vinh quang của Phó Thủ tướng Đoàn Duy Thành.
Cố Phó Thủ tướng Đoàn Duy Thành nhận huy hiệu 80 năm tuổi Đảng tháng 11/2024
1. ChỉhuyvượttùCônđảo
Ông là một trong những người lãnh đạo cuộc vượt ngục ngày 12-12-1952 tại địa ngục trần gian Côn Đảo. Cuộc vượt biển táo bạo này qua sự đăng tải của những tờ báo lớn ở Pháp, như: Le Figaro, Paris-Marth, L’Echo, L’Humanité... đã làm chấn động dư luận thế giới thời bấy giờ.
Đặc biệt, câu chuyện người tù Côn Đảo Đoàn Duy Thành chỉ huy vượt biển đã là nguồn cảm hứng trong cốt chuyện của tác phẩm điện ảnh "Thanh âm vượt đại dương" của đạo diễn Đào Duy Phúc và Nguyễn Mạnh Hà được chọn chiếu mở màn đợt phim mừng Đại hội XIV của Đảng từ 3-22/2/2026 trên toàn quốc. Tác phẩm kể về những tù nhân chính trị bị bắt giam tại nhà tù Côn Đảo với ý chí kiên cường, chung khát vọng tự do, luôn sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc.
2. Đổimớithểchếtrongnôngnghiệpthông qua NghịquyếtcủaĐảngvềKhoánsảnphẩm
Những năm cuối của thập niên 70 của thế kỷ trước, từ các ý tưởng và thí điểm giao ruộng khoán ở Phú Thọ (Vĩnh Phúc cũ) đã được ông Đoàn Duy Thành cùng lãnh đạo thành phố Cảng nhân lên thành nguồn lực xã hội to lớn trong đổi mới thể chế quản trị kinh tế của Đảng thông qua Nghị quyết 24 năm 1980 của Ban Thường vụ Thành ủy thành phố Hải Phòng về khoán sản phẩm nông nghiệp.
Hải Phòng đã thực hiện thành công mô hình đột phá kinh tế này, để rồi không lâu sau, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 100 năm 1981, công nhận khoán sản phẩm tạo tiền đề cho Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa VI) về “Khoán 10" năm 1988 và làm nền tảng pháp lý phát triển nền nông nghiệp cả nước.
Và trong công cuộc đổi mới kinh tế lần thứ nhất đó, Việt Nam đã không chỉ thoát nghèo đói và từng bước bảo đảm an ninh lương thực mà còn nhanh chóng trở thành quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu trên thế giới. Sự đột phá và thành công của ngành sản xuất nông nghiệp đã lan tỏa sang các ngành khác hướng tới nền kinh tế thị trường dựa vào xuất khẩu, là nền tảng cho lý luận và thực tiễn phát triển nguồn lực con người và xã hội cũng như hội nhập kinh tế quốc tế của cả nước…
Thực tiễn đổi mới ở thành phố biển Hải Phòng - nơi “đầu sóng ngọn gió” của đất nước cách đây hơn 45 năm với câu nói của Bí thư Thành ủy Đoàn Duy Thành: “Chúng tôi không xin tiền, chỉ xin một cơ chế” đã định hướng cơ bản để hình thành một đường lối đổi mới chung về thể chế của đất nước.
3. Đặtnềnmóngpháttriểntầmnhìn Kinh tếbiển
Đồng chí Đoàn Duy Thành, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), nguyên Bí thư Thành ủy Hải Phòng đi thực tế tại cầu Tân Vũ - Lạch Huyện năm 2017. Nguồn: Baohaiphong.vn
Vào những năm đầu 80 của thế kỷ XX, ông đã thể hiện tầm nhìn chiến lược, quy hoạch và triển khai các dự án mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế biển và mở rộng không gian phát triển hướng Biển Đông của Hải Phòng.
Điển hình là các dự án khai hoang đắp đập Đình Vũ; đào kênh Cái Tráp; làm đường xuyên đảo Cát Hải, Cát Bà và đắp đê đường 14… Riêng việc đắp đê đường 14, lấn biển Đồ Sơn đã mở rộng diện tích đất canh tác, hình thành vùng dân cư mới, Hải Phòng thành lập thêm hai xã.
Để ghi nhớ công lao của ông, các xã được đặt tên mới là Hải Thành và Tân Thành (nay là phường Dương Kinh). Tất cả điều đó đã đem lại cảm hứng cho Nhà thơ cách mạng Tố Hữu làm những vần thơ như một hồi chuông báo hiệu một sự bắt đầu đổi mới của đất nước ở nơi đầu sóng ngọn gió - thành phố cảng Hải Phòng với người đứng đầu Bí thư Thành ủy Đoàn Duy Thành: “… Đào kênh lấn biển mở cơ đồ…”. Có thể nói ông thực sự là : “Người "thuyền trưởng" mở đường cho sự nghiệp đổi mới của thành phố Cảng (Báo Hải Phòng ngày 12/02/2026).
Tư duy của ông về chiến lược của Hải Phòng phải kết nối hạ tầng công nghiệp gắn với cảng biển nước sâu và mở rộng giao thương quốc tế cùng với chiến lược “mở mang bờ cõi” như lấn biển, quai đê lấn bãi, mở rộng quỹ đất cho công nghiệp và đô thị ven biển… đã không chỉ tạo ra diện mạo mới sinh động của Hải Phòng mà còn đặt nền móng nền móng cho các chiến lược Kinh tế biển và An ninh quốc phòng của Việt Nam sau này.
4. Thượngtônphápluậtvà “lấyngườidânlàmtrungtâm”
Trong những năm tháng cơ chế còn nặng tính bao cấp, đời sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn, ông không chỉ trăn trở những vấn đề lớn của kinh tế vĩ mô, mà bắt đầu từ chính những việc dân sinh cụ thể.
Ông quan niệm: “phát triển phải được đo bằng sự thay đổi trong đời sống hàng ngày của nhân dân”. Mục tiêu “Ăn đủ, ngủ ngon, đi lại an toàn” là hồn cốt của công tác xóa đói giảm nghèo và “an dân” mà ông đích thân chỉ đạo với chính sách cụ thể cải thiện nhà ở đô thị như cải tạo hố xí thùng trong các khu dân cư, chỉnh trang ngõ ngách đô thị, nâng cao vệ sinh môi trường… và tiên phong trong phong trào “ngói hóa” ở nông thôn cũng như khuyến khích sản xuất hàng hóa, từng bước nâng cao thu nhập cho người dân mang đậm dấu ấn của tư duy thực tiễn….
Ông khuyến khích làm giàu hợp pháp, coi đời sống khá lên của người dân là thước đo thành công của chính quyền.
Từ đô thị đến nông thôn, từ đời sống đến kỷ cương – ở đâu cũng thấy một tư duy phát triển toàn diện, lấy dân làm gốc và luôn coi con người là trung tâm. Ông cũng là người đầu tiên quyết định trao quà tặng của Thành phố tới toàn thể nhân dân, thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến đời sống của người dân và đặt nền móng cho cách tiếp cận phát triển theo hướng đặt con người và hiệu quả thực tiễn vào trung tâm của chính sách.
5.Thúcđẩy FDI vàHộinhậpkinhtếquốctế
Ông là bộ trưởng đầu tiên và duy nhất của Bộ Kinh tế Đối ngoại (giai đoạn 1988–1990). Cùng với Uỷ ban Quan hệ Kinh tế đối ngoại, Ông đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và triển khai Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 được dư luận trong nước và ngoài nước, đặc biệt giới kinh doanh hoan nghênh và hưởng ứng, nhanh chóng đi vào cuộc sống, thu được kết quả quan trọng trong thời gian 1987-1995 và đặt nền móng cho việc thu hút FDI, thúc đẩy kinh tế đối ngoại trong giai đoạn đầu mở cửa đất nước.
Giai đoạn giữ chức Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) từ năm 1987 đến 1990, ông tham gia thúc đẩy các chính sách cải cách kinh tế quan trọng, tháo gỡ rào cản cơ chế bao cấp, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển. Trong đó, ông cũng là người khởi xướng ban hành nhiều quyết sách góp phần từng bước xóa bỏ cơ chế độc quyền ngoại thương, mở rộng sự phân quyền tự chủ cho doanh nghiệp trong hoạt động XNK, khơi thông dòng chảy thương mại, tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh phát triển. Các quyết định của ông thúc đẩy việc cải cách, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoạt động ngoại thương, mở rộng thị trường quốc tế, đặt nền móng cho nền kinh tế mở của Việt Nam.
Những chỉ đạo này đã tạo ra sự thay đổi lớn trong tư duy quản lý, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tạo môi trường kinh doanh cởi mở hơn.
7.Nângtầmdoanhnghiệplàchủthểcủanềnkinhtế
Từ năm 1993, ông đảm nhận chức Chủ tịch VCCI trong bối cảnh cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam còn non trẻ và VCCI chưa có cơ sở vật chất gì nhiều, các hoạt động cũng chưa có gì quan trọng, nói chung, gần như “tay trắng”. Sau gần 10 năm đảm nhận nhiệm vụ, ông đã dành nhiều tâm huyết xây dựng và phát triển tổ chức này theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn. VCCI từng bước chuyển mình mạnh mẽ và nâng tầm vị thế đại diện Doanh nghiệp Việt Nam cả ở trong nước và quốc tế cũng như thực sự đưa cộng đồng Doanh nghiệp trở thành một trong ba chủ thể của nền kinh tế thị trường bên cạnh Nhà nước và Nhân dân. Vai trò chủ chốt của ông thời kỳ này được thể hiện qua 3 khía cạnh:
Thứnhất, Luật Doanh nghiệp 1999 với tinh thần “được kinh doanh những gì pháp luật không cấm” là một bước ngoặt lớn, và trong đó có dấu ấn rõ nét từ sự thúc đẩy mạnh mẽ của Chủ tịch Đoàn Duy Thành - người luôn có tư duy cải cách và đánh giá cao vai trò khu vực kinh tế tư nhân.
Thứhai, thúc đẩy việc hoàn thiện khung khổ pháp lý cho VCCI thông qua Điều lệ được Thủ tướng Chính phủ chuẩn y tại Quyết định số 203-TTg ngày 27-4-1993. Trong đó quy định cơ chế đối thoại giữa Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp và phát triển hệ thống chi nhánh hoặc cơ quan đại diện tại các địa phương trong cả nước và ở nước ngoài.
Thứba, xây dựng cơ sở vật chất mạnh mẽ và đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, qua đó đưa VCCI trở thành một trong những CCI (Chamber of Commerce & Industry) lớn nhất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Chính vì vậy, có thể nói kết quả lớn nhất các thế hệ doanh nhân ngày nay được thụ hưởng từ quá trình cải cách bền bỉ, trong đó có dấu ấn rất đậm nét của Chủ tịch VCCI Đoàn Duy Thành, là một môi trường kinh doanh cởi mở hơn, nơi quyền tự do kinh doanh được thừa nhận và bảo vệ.
8. Những tác phẩm lý luận
Bên cạnh công tác lãnh đạo, quản lý và điều hành, ông dành nhiều thời gian nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và công bố các công trình có giá trị tham khảo về lý luận phát triển nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và vai trò của doanh nghiệp.
Các đầu sách tiêu biểu của ông có thể kể tới: "Một số cảm nhận về tư tưởng – hành động của Hồ Chí Minh", "Lý luận Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng tiền phong", "Vai trò then chốt của Doanh nghiệp Nhà nước trong kinh tế thị trường định hướng XHCN" , "Những nguyên tắc vận hành cơ chế thị trường ở Việt Nam", "Làm thế nào để thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", "Đảng lãnh đạo kinh tế và đảng viên làm kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN", "Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh"…
Đại hội lần thứ XIV của Đảng là dấu mốc mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước trong kỷ nguyên AI (trí tuệ nhân tạo) và công nghệ 4.0, ở đó những phẩm chất mạnh mẽ của nguồn lực con người: Khát vọng - đột phá - hành động là mệnh lệnh cho tương lai dân tộc. Chính vì vậy, dấu ấn lịch sử của những đời người bất tử như cuộc đời đầy cống hiến của ông Đoàn Duy Thành đã và sẽ đặt nền tảng cho đổi mới và phát triển, đồng thời đó sẽ là chỉ dấu thực tiễn và đảm bảo thành công của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.