Tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp

Toàn cảnh thị trường tài chính xanh Việt Nam: Bước tiến sau 5 năm

Lê Mỹ 23/09/2026 04:01

Thị trường trái phiếu xanh Việt Nam sau 5 năm đã đạt được những bước tiến đáng kể với cột mốc tại 2025, được ghi nhận có sự "tăng chất" và hoàn thiện nền tảng pháp lý để khơi dòng vốn xanh.

Trái phiếu xanh: Tăng chất giảm lượng

Năm 2025, thị trường trái phiếu xanh và bền vững tại Việt Nam ghi nhận giá trị phát hành 3,407 tỷ đồng qua 5 giao dịch, giảm từ 10,325 tỷ đồng qua 6 giao dịch trong năm 2024, trong đó tất cả các đợt phát hành đều đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Thị trường tài chính xanh với kênh trái phiếu xanh và trái phiếu bền vững ghi nhận “từ mở rộng quy mô sang củng cố chất lượng tại năm 2025. (Ảnh minh họa).
Thị trường tài chính xanh với kênh trái phiếu xanh và trái phiếu bền vững ghi nhận “từ mở rộng quy mô sang củng cố chất lượng tại năm 2025. (Ảnh minh họa).

Cả 5 đợt phát hành trái phiếu xanh bằng nội tệ trong năm 2025 đều được đánh giá độc lập trước phát hành, dưới hình thức Đánh giá độc lập Ý kiến Bên Thứ Hai (SPO) đối với Khung Trái phiếu Xanh.

Ba trong số năm SPO được thực hiện bởi FiinRatings, đơn vị cung cấp dịch vụ SPO trong nước đầu tiên tại Việt Nam và là tổ chức thẩm định duy nhất trong nước được CBI phê duyệt. Hai SPO còn lại được thực hiện bởi các tổ chức đánh giá quốc tế.

Đáng chú ý, tất cả các báo cáo đều được phát hành trước khi trái phiếu được phát hành, phù hợp với thông lệ tốt nhất theo Nguyên tắc Trái phiếu Xanh của ICMA.

Sự sụt giảm về quy mô phản ánh xu hướng chuyển dịch có chủ đích “từ mở rộng quy mô sang củng cố chất lượng”: sự tham gia của khối doanh nghiệp phi tài chính gia tăng, cơ cấu tổ chức phát hành đa dạng hơn và thực hành công bố thông tin được cải thiện, cho thấy thị trường ngày càng ưu tiên tính minh bạch thay vì tăng trưởng nhanh về quy mô, báo cáo về thị trường trái phiếu xanh Việt Nam của FiinRatings thực hiện, ghi nhận.

Một giao dịch nổi bật là trái phiếu xanh kỳ hạn 20 năm của Công ty Xuân Mai - Hà Nội, theo FiinRatings, đánh dấu trái phiếu doanh nghiệp có kỳ hạn dài nhất tại Việt Nam trong hơn một thập kỷ qua, cho thấy lợi thế về kỳ hạn mà trái phiếu xanh có thể mang lại, đặc biệt đối với các tổ chức phát hành trong lĩnh vực hạ tầng.

So với các đợt phát hành bằng nội tệ (LCY), những đợt phát hành ngoại tệ (FCY) có số lượng giới hạn hơn trong 5 năm qua.

Tuy nhiên, tổng giá trị phát hành duy trì ở mức đáng kể, đạt xấp xỉ 1,075 triệu USD thông qua 5 giao dịch: BIM Land (2021), Vingroup (2021), SeABank (2024), cùng HDBank và VPBank (2025).

Đáng chú ý, năm 2025 ghi nhận hai đợt phát hành trái phiếu xanh và bền vững bằng ngoại tệ với tổng giá trị khoảng 400 triệu USD, đánh dấu một cột mốc quan trọng.

Điều này càng đáng chú ý khi kể từ các đợt phát hành của BIM Land và Vingroup năm 2021, thị trường chưa ghi nhận các giao dịch có quy mô tương tự cho đến năm 2025.

Cơ sở nhà đầu tư đối với trái phiếu xanh phát hành bằng nội tệ trong nước chủ yếu gồm các nhà đầu tư tổ chức, như AIA, Manulife,...

tpx.jpg
(Nguồn: FiinRatings)

Ngược lại, các đợt phát hành bằng ngoại tệ của HDBank và VPBank đã thu hút các tổ chức tài chính phát triển quốc tế và nhà đầu tư tác động, như Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Ngân hàng Phát triển Doanh nghiệp Hà Lan (FMO) và Tổ chức Đầu tư Quốc tế Anh (BII),...

Phần lớn các đợt phát hành trái phiếu xanh trên thị trường đều được thực hiện theo phương thức phát hành riêng lẻ (PP), trong khi chỉ có một đợt phát hành trái phiếu xanh ngoại tệ theo hình thức chào bán ra công chúng (PO) trong suốt 5 năm qua.

Trong khi trái phiếu xanh ngày càng trở nên phổ biến trên thị trường tài chính, các doanh nghiệp và ngân hàng tại Việt Nam vẫn luôn ưu tiên phát hành riêng lẻ thay vì chào bán ra công chúng, xuất phát từ các lợi thế như tốc độ huy động vốn nhanh hơn, tính bảo mật thông tin cao hơn và quy trình thủ tục pháp lý tinh gọn hơn so với chào bán đại chúng.

Ngoài đánh giá độc lập, sự hỗ trợ về kỹ thuật từ các đối tác phát triển cũng giúp các tổ chức phát hành lần đầu trong việc xây dựng Khung trái phiếu xanh có độ tin cậy, tăng cường quản trị nội bộ và đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư.

Các sáng kiến như Chương trình Sẵn sàng phát hành Trái phiếu xanh của GGGI đã đóng góp vào quá trình này thông qua việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật có mục tiêu cho các bên tham gia thị trường được lựa chọn, FiinRatings nhận định.

Tín dụng xanh tiếp tục tăng trưởng

Bên cạnh thị trường trái phiếu xanh, ở kênh tín dụng xanh, theo số liệu được FiinRatings ghi nhận, dư nợ tín dụng xanh đạt 780 nghìn tỷ VND vào cuối năm 2025, tăng gần 15% so với năm trước và chiếm 4,2% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, tiếp nối đà tăng trưởng bình quân 21,2%/năm trong giai đoạn 2017-2024.

Năng lượng tái tạo và năng lượng sạch tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất, trên 37%, tiếp theo là nông nghiệp xanh.

Tín dụng xanh
(Nguồn: FiinRatings)

Việc ban hành Danh mục phân loại xanh quốc gia (Green Taxonomy) năm 2025 đánh dấu bước tiến quan trọng trong chuẩn hóa phân loại tín dụng xanh trong hệ thống ngân hàng, các nhà phân tích trong nhóm FiinRatings nhấn mạnh.

Đáng chú ý, thị trường đã chứng kiến sự xuất hiện của các gói tín dụng chuyên biệt được thiết kế nhằm giảm chi phí vốn cho các dự án xanh.

TPBank đã triển khai gói tín dụng với quy mô 5.000 tỷ đồng cho các hạng mục bền vững ưu tiên, bao gồm năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, giao thông bền vững và nông nghiệp bền vững, với mức lãi suất 0% trong ba tháng đầu.

Tương tự, BIDV áp dụng mức giảm lãi suất lên tới 1,5% cho các dự án nước sạch đủ điều kiện.

Các chương trình này phản ánh sự chuyển dịch rõ nét của các ngân hàng thương mại trong việc triển khai tín dụng xanh ưu đãi, vừa nhằm tạo lợi thế cạnh tranh khác biệt, vừa đóng góp vào các mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.

Cập nhật đến 2026, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, dư nợ đã tăng gấp 4,6 lần so với thời điểm đầu triển khai. Đến nay, đã có 82 tổ chức tín dụng đã triển khai cấp tín dụng xanh với tổng dư nợ hơn 828.000 tỷ đồng, tăng 4,6 lần so với năm 2017.

Trong đó, dư nợ tập trung chủ yếu vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học (trên 32%), cùng năng lượng xanh (trên 30%). Ngoài ra, dư nợ được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt hơn 5,7 triệu tỷ đồng, tương đương trên 30% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Đại diện NHNN khẳng định hệ thống ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong việc khơi thông dòng vốn cho các dự án thân thiện với môi trường, góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Hệ thống cũng đang có các hành động cụ thể thúc đẩy, phát triển tín dụng xanh.

Các công cụ mới nổi

Bên cạnh trái phiếu và tín dụng xanh, chuyên gia FiinRatings chỉ ra, hệ sinh thái công cụ tài chính bền vững tại Việt Nam đang ngày càng mở rộng, bao gồm trái phiếu liên kết bền vững, trái phiếu xanh dương và trái phiếu chuyển đổi.

Các công cụ này vẫn ở giai đoạn đầu, nhưng ngày càng trở nên phù hợp trong bối cảnh Việt Nam hướng tới phát triển chiều sâu thị trường vốn, thu hút nhà đầu tư quốc tế, hỗ trợ quá trình khử carbon trong công nghiệp và thúc đẩy chương trình nghị sự về Trung tâm Tài chính Quốc tế.

Trái phiếu liên kết bền vững cung cấp một lộ trình linh hoạt hơn cho các tổ chức phát hành có những hoạt động kinh doanh không hoàn toàn đáp ứng được các tiêu chí của trái phiếu xanh dựa trên mục đích sử dụng vốn.

Khác với trái phiếu xanh, trái phiếu và các khoản vay liên kết bền vững không yêu cầu phải tách biệt nguồn vốn để sử dụng cho các dự án đủ điều kiện cụ thể.

Thay vào đó, các điều khoản tài chính sẽ được gắn liền với các mục tiêu hiệu suất bền vững xác định trước, ví dụ như giảm phát thải, hiệu quả năng lượng hoặc chứng nhận xanh.

Tại Việt Nam, các khoản vay liên kết bền vững có phần phổ biến hơn so với trái phiếu liên kết bền vững, phản ánh một hệ thống tài chính do ngân hàng dẫn dắt.

Nhiều ngân hàng trong nước và quốc tế, bao gồm HSBC, Standard Chartered, Vietcombank, BIDV, Techcombank và VPBank, đã giới thiệu hoặc nghiên cứu các cấu trúc khoản vay liên kết bền vững, thường phối hợp với các tổ chức tài chính phát triển.

Trái phiếu xanh lam cũng có tiềm năng phát triển trong dài hạn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài, nền kinh tế biển, ngành nuôi trồng thuỷ sản, tiềm năng năng lượng tái tạo ngoài khơi, và nhu cầu bảo vệ hệ sinh thái ven biển.

Tuy nhiên, hiện tại Việt Nam vẫn chưa có khung pháp lý chuyên biệt hoặc thị trường được định hình rõ nét cho trái phiếu xanh lam.

Trong ngắn hạn, sự phát triển của công cụ này có thể phụ thuộc vào hướng dẫn rõ ràng hơn về tiêu chí đủ điều kiện, nguồn dự án có khả năng huy động vốn và nhu cầu của nhà đầu tư.

Các hướng dẫn quốc tế, như Hướng dẫn về Tài chính Xanh lam (Guidelines for Blue Finance) của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), có thể là nguồn tham chiếu hữu ích trong quá trình phát triển thị trường.

Trái phiếu chuyển đổi cũng ngày càng được quan tâm trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy khử carbon trong công nghiệp.

Đối với các ngành phát thải carbon cao và định hướng xuất khẩu như thép, xi măng, nhôm, sản xuất, logistics và vận tải, quá trình chuyển sang sản xuất phát thải carbon thấp hơn sẽ đòi hỏi nguồn vốn đầu tư đáng kể.

Các diễn biến pháp lý quốc tế, bao gồm Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của EU, đang làm gia tăng sự quan tâm đến các công cụ tài chính hỗ trợ lộ trình khử carbon đáng tin cậy; trong khi thị trường carbon trong nước cũng được kỳ vọng sẽ gia tăng áp lực tuân thủ đối với các ngành phát thải cao.

Trong bối cảnh này, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu liên kết bền vững và khoản vay liên kết bền vững có thể trở thành những công cụ phù hợp, nếu đi kèm các mục tiêu chặt chẽ, kế hoạch chuyển đổi đáng tin cậy và báo cáo minh bạch.

Nhìn chung, theo FiinRatings, các công cụ mới nổi này nên được xem là bổ trợ, thay vì thay thế, cho thị trường trái phiếu xanh và tín dụng xanh của Việt Nam.

Khi khung pháp lý ngày càng hoàn thiện và chương trình nghị sự về Trung tâm Tài chính Quốc tế tiếp tục được triển khai, Việt Nam có cơ hội định vị không chỉ trong lĩnh vực tài chính xanh mà còn ở tài chính bền vững, tài chính xanh lam và tài chính chuyển đổi.

Để hiện thực hóa tiềm năng này, thị trường cần các tiêu chuẩn công bố thông tin chặt chẽ hơn, thông lệ đánh giá độc lập đáng tin cậy, mức độ phù hợp rõ ràng hơn với hệ thống phân loại xanh và cơ sở nhà đầu tư rộng hơn, theo ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinRatings, Trưởng nhóm phân tích.

Đáng chú ý, với những bước tiến ở Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC), trong năm 2026, VIFC-HCMC đã ra mắt Hệ sinh thái Tài chính Hàng hải quốc tế, trong đó, tài chính xanh lam trở thành điểm nhấn xuyên suốt, nổi vật trong danh mục sản phẩm ưu tiên sẽ hỗ trợ củng cố 5 định vị giá trị chiến lược cho hệ sinh thái này.

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân khẳng định khi Việt Nam xây dựng được hệ sinh thái tài chính xanh lam, điều này sẽ tạo ra sự khác biệt. "Chúng ta định vị sẽ trở thành một trong những trung tâm về tài chính xanh lam hàng đầu ở trong khu vực bởi hiện Việt Nam đang đi trước trong lĩnh vực này", ông nhấn mạnh khi trao đổi với DĐDN.

Đột phá chính sách cho tài chính xanh

Khung pháp lý và các quy định bổ trợ, liên quan cũng đang rộng đường tạo bước đột phá chính sách cho tài chính xanh nói chung, trái phiếu nói riêng. Báo cáo của FiinRatings đề đến Quyết định 21/2025/QĐ-TTg, thiết lập Danh mục phân loại xanh chính thức đầu tiên của Việt Nam, giúp làm rõ tiêu chí phân loại cho tổ chức phát hành và bên cho vay, trong khi đề xuất hỗ trợ lãi suất 2% theo Nghị quyết 198/2025/QH15 cho thấy sự hỗ trợ đáng kể về tài khóa nhằm giảm chi phí huy động vốn.

Luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp 2025 tiếp tục củng cố cơ chế ưu đãi thông qua miễn thuế đối với thu nhập của nhà đầu tư từ trái phiếu xanh, qua đó góp phần giảm chi phí vốn thực tế cho tổ chức phát hành.

FiinRatings cũng đánh giá việc ra mắt Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) Việt Nam vào tháng 12/2025, với tài chính xanh và ESG được xác định là lĩnh vực kinh doanh ưu tiên, tiếp tục thúc đẩy một môi trường chính sách đồng bộ và định hướng dài hạn hơn.

Bên cạnh đó, cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) theo Nghị định 57 và 58 mở thêm cơ hội huy động vốn cho doanh nghiệp trong quá trình chuyển dịch năng lượng.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng một số khoảng trống vẫn tồn tại: các hướng dẫn thực thi chi tiết theo Quyết định 21 vẫn chưa hoàn thiện, khiến tổ chức phát hành chưa rõ về cách thức áp dụng; trong khi khả năng tiếp cận các chương trình tín dụng ưu đãi tại ngân hàng còn chưa đồng đều và chủ yếu thuận lợi hơn với các doanh nghiệp lớn, có nền tảng vốn tốt.

Lê Mỹ