Nâng tầm du lịch Việt Nam
Du lịch Việt Nam đang đứng trước những cơ hội thuận lợi để tăng trưởng đột phá.

Nghị quyết 26 - NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới được ban hành vào thời điểm ngành du lịch đang trên đà tăng trưởng mạnh, mô hình phát triển đang từng bước dịch chuyển từ số lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.
Tại Giải thưởng Du lịch thế giới vừa tổ chức, Việt Nam được vinh danh với 2 danh hiệu quan trọng là điểm đến hàng đầu châu Á và điểm đến di sản hàng đầu châu Á. Trước đó, trong Bảng xếp hạng chỉ số năng lực phát triển du lịch và lữ hành toàn cầu (TTDI) 2026 của Diễn đàn Kinh tế thế giới, Việt Nam đã tăng 7 bậc, xếp vị trí 52/110 nền kinh tế. Đây là mức cải thiện đáng ghi nhận trong một hệ thống đánh giá khá khắt khe với 17 trụ cột và 102 chỉ số thành phần.
Chu kỳ tăng trưởng mới
Theo Cục Du lịch Quốc gia, 8 tháng đầu của năm, Việt Nam đón 15,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước và phục vụ 113 triệu lượt khách nội địa, tăng 6,6%. Tổng thu từ khách du lịch ước đạt 781.000 tỷ đồng, tăng 10,4%. Bên cạnh đó, cơ cấu thị trường đang được mở rộng. Trong khi thị trường truyền thống châu Á tăng 7,4% thì thị trường châu Âu với 2,7 triệu lượt khách, tăng 53,4%; châu Úc tăng 23,3%; châu Mỹ tăng 20,7%. Ba châu lục đường dài này chiếm khoảng 1/4 tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong 8 tháng qua. Không chỉ minh chứng cho sức hấp dẫn của du lịch Việt Nam, việc đa dạng thị trường khách quốc tế còn mở ra dư địa lớn để thu hút khách chất lượng cao, có thời gian lưu trú dài hơn.
Ông Hà Văn Siêu - Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia cho biết: Kết quả tích cực trên là sự cộng hưởng của việc tận dụng hiệu quả các lợi thế về môi trường chính trị ổn định, sản phẩm du lịch đa dạng, cạnh tranh về chi phí, chính sách thị thực thông thoáng, hoạt động xúc tiến từng bước tiếp cận đúng thị trường… Với quy mô thị trường, doanh thu và chất lượng dịch vụ ngày càng cải thiện, du lịch Việt Nam đang bước vào chu kỳ tăng trưởng mới.
Trong bối cảnh đó, theo Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Hà Văn Siêu, Nghị quyết 26 - NQ/TW được ban hành có ý nghĩa lớn đối với ngành trong việc đưa ra những đường hướng rõ nét về lãnh đạo, chỉ đạo, tầm nhìn, quan điểm, hướng phát triển dài hạn. Đặc biệt phát huy mạnh mẽ bản sắc văn hóa, con người Việt Nam trong thời đại mới, phát huy công nghệ trong thời đại số và phát huy sức mạnh liên kết hướng tới gia tăng giá trị cho du lịch Việt Nam. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP, thu hút 45 -50 triệu khách quốc tế, phục vụ 160 triệu khách nội địa và đạt tổng thu 80-90 tỉ USD. Đồng thời, xác định rõ yêu cầu chuyển mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng, gắn với tiêu chí thông minh, xanh, sáng tạo. Bài toán tăng trưởng của ngành du lịch trong giai đoạn tới không còn tập trung quá nhiều vào số lượng. Quan trọng hơn, mỗi khách để lại bao nhiêu giá trị cho doanh nghiệp, cho địa phương và nền kinh tế.
Chuyển hoá lợi thế thành giá trị thực
Tăng trưởng ấn tượng, du lịch Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế. Trong đó, việc tăng 7 bậc trong TTDI 2026 là tín hiệu tích cực, cho thấy nhiều điều kiện nền tảng của du lịch như sức cạnh tranh về giá, an toàn - an ninh, tài nguyên văn hóa và tự nhiên được cải thiện. Tuy vậy, trong bảng xếp hạng, Việt Nam vẫn còn những chỉ số thấp như hạ tầng và dịch vụ du lịch, mức độ ưu tiên, tác động kinh tế - xã hội của du lịch. Điều này cho thấy, chúng ta mạnh ở những lợi thế sẵn có và đang yếu ở khâu chuyển hóa lợi thế đó thành giá trị thực.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Bùi Thanh Tú - CMO của BestPrice Travel nhận thấy, bài toán càng rõ khi đặt cạnh mục tiêu thu hút 45 - 50 triệu lượt khách năm 2030 mà Nghị quyết 26-NQ/TW đề ra. Nếu tính từ mốc năm 2025, mục tiêu này đòi hỏi tăng trưởng bình quân khoảng 16 - 19%/năm. Nếu chỉ tăng trưởng dựa trên khối lượng sẽ khó bền vững, theo ông Bùi Thanh Tú, Việt Nam cần đồng thời mở rộng tiếp cận thị trường và đường bay, phát triển các hành trình kết nối nhiều địa phương đủ hấp dẫn để khách ở lâu hơn và quay lại. Cùng với đó, đa dạng sản phẩm và các dịch vụ chi tiêu cao như du lịch y tế, MICE, golf, du lịch thể thao…
Định hướng này cũng phù hợp với sự dịch chuyển mạnh mẽ dòng khách quốc tế. Dữ liệu 8 tháng của năm 2026 cho thấy, mỗi thị trường đang tăng với tốc độ và động lực khác nhau. Đơn cử như Australia tăng 23,3%, Mỹ tăng 20,4%, Đức 15,1%, Pháp 13,4%, Anh 9,8%, thận chí Nga tăng 165,7% và vượt 1 triệu lượt. Đây là những nhóm khách có kỳ vọng, thói quen chi tiêu và cách đặt dịch vụ khác nhau, theo ông Bùi Thanh Tú, doanh nghiệp không thể tiếp tục bán một lịch trình chung cho mọi thị trường mà cần cung cấp sản phẩm theo từng nhu cầu, đối tượng khách cụ thể. Các sản phẩm nên thiết kế theo dạng mô-đun với lựa chọn linh hoạt về thời lượng, tiêu chuẩn dịch vụ và trải nghiệm bổ sung. Đồng nghĩa với đó, việc quản trị của doanh nghiệp thay đổi theo giá trị với một bộ chỉ số rõ ràng, bao gồm thời gian lưu trú, chi tiêu bình quân mỗi khách mỗi ngày, tỷ lệ mua thêm dịch vụ, mức độ hài lòng (NPS) và tỷ lệ khách quay lại. Những chỉ số này cho biết sản phẩm nào thực sự tạo ra giá trị, thay vì chỉ tạo ra doanh số.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Bùi Thanh Tú cho biết thêm: Cách để khách tăng chi tiêu bền vững là làm cho khách thấy đáng mua thêm chứ không đơn thuần tăng giá tour. Chẳng hạn, một hành trình Hà Nội - Hạ Long có thể mở rộng bằng trải nghiệm ẩm thực, làng nghề, nghỉ dưỡng hoặc một điểm đến bổ sung phù hợp sở thích của khách. Điều kiện là dịch vụ phải dễ đặt, giá minh bạch và chất lượng đúng cam kết.
Kết nối hạ tầng và dịch vụ
Du lịch Việt Nam đang đứng trước những cơ hội thuận lợi để tăng trưởng đột phá. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đề ra, ông Bùi Thanh Tú đề xuất ưu tiên hàng đầu là cải thiện chất lượng trải nghiệm. Với đặc thù hàng không chiếm khoảng 83% lượng khách nhập cảnh, điểm chạm đầu tiên của du khách đường dài là thủ tục và kết nối bay. Tuy hạ tầng vận tải hàng không đã cải thiện nhưng nút thắt nằm ở khâu kết nối hạ tầng, dịch vụ du và bền vững môi trường.
Thứ hai là nhân lực và sản phẩm. Hướng dẫn viên, nhân viên khách sạn, nhà hàng và vận chuyển cần được đào tạo cả về ngoại ngữ lẫn khả năng hiểu nhu cầu từng thị trường. Địa phương và doanh nghiệp cần cùng tạo ra sản phẩm đặc sắc phục vụ khách du lịch quanh năm, đặc biệt là trải nghiệm văn hóa, ẩm thực, giải trí buổi tối và sản phẩm gắn với cộng đồng. Khi sản phẩm gắn với chuỗi cung ứng địa phương, phần giá trị ở lại địa phương sẽ lớn hơn.
Cuối cùng là chuyển đổi số và liên kết chuỗi giá trị. Khi thông tin, đặt dịch vụ, thanh toán và phản hồi đều thuận tiện, khách có nhiều cơ hội sử dụng sản phẩm hơn. Khi lữ hành, lưu trú, vận chuyển và nhà cung cấp địa phương cùng xây dựng hành trình, doanh thu từ một chuyến đi được lan tỏa rộng hơn tới doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng. Một điểm đáng chú ý trong các nhiệm vụ, giải pháp mà Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai nhằm tạo bứt phá cho ngành công nghiệp không khói, chuyển đổi số được xem như một phần quan trọng của hạ tầng phát triển. Hiệp hội Du lịch Việt Nam cũng xác định lấy chuyển đổi số và tăng trưởng xanh làm nền tảng. Các chương trình ứng dụng AI, VITA Green, đào tạo quản trị và nâng chất lượng sản phẩm là công cụ hỗ trợ doanh nghiệp. Đồng thời, thúc đẩy liên kết thực chất theo hướng “liên kết chuỗi giá trị” thay cho “liên kết điểm đến”.
Minh - Hạnh