Trưng dụng tài sản số, tránh xâm phạm dữ liệu doanh nghiệp
Đề xuất bổ sung tài sản số vào diện trưng dụng đặt ra yêu cầu làm rõ phạm vi quyền hạn của cơ quan thực hiện, tránh việc trưng dụng tài sản trở thành căn cứ tiếp cận dữ liệu vượt quá mục đích cần thiết.
Một trong những yêu cầu đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản là bảo đảm quy định có thể đáp ứng những tình huống phát sinh trong nền kinh tế số, đồng thời không tạo ra những khoảng trống pháp lý trong quá trình thực thi. Khi dữ liệu và các hệ thống công nghệ ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, việc mở rộng đối tượng trưng dụng sang tài sản số không chỉ là câu chuyện bổ sung danh mục tài sản, mà còn liên quan đến giới hạn quyền can thiệp của cơ quan nhà nước.

Theo Điều 22 Dự thảo Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản sửa đổi (Dự thảo), nhóm tài sản thuộc đối tượng trưng dụng được đề xuất gồm nhà, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất; khu vực biển đã giao cho tổ chức, cá nhân; cơ sở hạ tầng viễn thông, cơ sở hạ tầng thông tin, hạ tầng số, tài sản số và các công trình kết cấu hạ tầng khác; vật nuôi; máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải và một số tài sản khác.
Đây là bước mở rộng đáng chú ý so với Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản hiện hành, khi tài sản số chưa được xác định riêng trong danh mục đối tượng trưng dụng. Đề xuất này cho thấy yêu cầu hoàn thiện pháp luật đang được đặt trong bối cảnh tài sản và các nguồn lực phục vụ hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, không chỉ giới hạn ở những tài sản hữu hình có thể bàn giao và quản lý trực tiếp.
Thực tế, nhiều doanh nghiệp hiện phụ thuộc vào hệ thống phần mềm, nền tảng công nghệ, hạ tầng số và các tài sản được xác lập trên môi trường điện tử. Tuy nhiên, khác với máy móc hay phương tiện vận tải, một tài sản số có thể đồng thời kết nối với nhiều hệ thống, tài khoản và kho dữ liệu. Việc trao quyền quản trị hoặc quyền sử dụng tài sản vì vậy có thể kéo theo khả năng tiếp cận những thông tin không thuộc phạm vi cần thiết cho mục đích trưng dụng.
Từ thực tế này, vấn đề cần làm rõ là trưng dụng tài sản số có đồng nghĩa với việc cơ quan nhà nước được quyền tiếp cận dữ liệu lưu trữ hoặc xử lý thông qua tài sản đó hay không.
Các chuyên gia cho rằng, cần phân biệt rõ quyền kiểm soát, khai thác và sử dụng tài sản số với quyền truy cập dữ liệu gắn với tài sản. Đây là những quyền có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Việc một cơ quan được trưng dụng hệ thống công nghệ để phục vụ nhiệm vụ cấp thiết không đồng nghĩa với việc cơ quan đó mặc nhiên được tiếp cận toàn bộ dữ liệu khách hàng, lịch sử giao dịch, thông tin cá nhân hay bí mật kinh doanh được lưu trữ trên hệ thống.

Theo TS Phan Phương Nam, Phó Trưởng Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, với tài sản hữu hình, phạm vi bàn giao và sử dụng thường có thể xác định tương đối cụ thể. Trong khi đó, tài sản số có tính kết nối cao, khiến ranh giới giữa quyền sử dụng tài sản và quyền tiếp cận thông tin trở nên khó xác định hơn. Chẳng hạn, việc cấp quyền quản trị một hệ thống có thể đồng thời cho phép người sử dụng truy cập dữ liệu khách hàng, thông tin giao dịch hoặc các tài liệu nội bộ của doanh nghiệp.
Nếu không có quy định giới hạn cụ thể, quá trình thực hiện quyết định trưng dụng có thể phát sinh những hệ quả vượt quá nhu cầu ban đầu. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản mà còn tiềm ẩn nguy cơ lộ lọt dữ liệu, xâm phạm bí mật kinh doanh hoặc làm gián đoạn hoạt động của doanh nghiệp.
Theo chuyên gia, việc mở rộng đối tượng trưng dụng cần đi kèm với cơ chế xác định rõ phạm vi quyền hạn được trao, căn cứ tiếp cận dữ liệu và trách nhiệm của cơ quan thực hiện. Những quyền hạn này cần gắn trực tiếp với mục đích trưng dụng, thay vì được hiểu là quyền truy cập không giới hạn đối với toàn bộ hệ thống hoặc dữ liệu có liên quan.
Yến Nhung