Không nên buộc doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu sở hữu 40 cửa hàng
Nhiều ý kiến đề nghị điều chỉnh điều kiện kinh doanh xăng dầu theo hướng đánh giá năng lực cung ứng thực tế, thay vì đặt nặng yêu cầu sở hữu tài sản, tránh làm tăng chi phí tuân thủ và thu hẹp cạnh tranh trên thị trường.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý Dự thảo Nghị định về kinh doanh xăng dầu, trên cơ sở nghiên cứu Dự thảo 14 ngày 07/10/2026 (Dự thảo). VCCI ghi nhận Ban soạn thảo đã tiếp thu nhiều kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp, như bỏ tiêu chí 40 thương nhân phân phối “chỉ thuộc hệ thống”, cho phép thương nhân phân phối mua bán với nhau trên cơ sở giao nhận thực tế và đơn giản hóa thủ tục cấp lại giấy chứng nhận cửa hàng.

Theo Dự thảo, thương nhân đầu mối phải sở hữu tối thiểu 40 cửa hàng bán lẻ và kho tiếp nhận có tổng sức chứa tối thiểu 15.000 m³. Từ năm 2029, yêu cầu sở hữu 40 cửa hàng được áp dụng đầy đủ. Trong khi đó, tổng nguồn tối thiểu 300.000 m³/năm, trừ nhiên liệu hàng không, dự kiến áp dụng từ kỳ phân giao năm 2027.
Theo VCCI, năng lực bảo đảm nguồn cung đã được kiểm soát thông qua yêu cầu về tổng nguồn tối thiểu và dự trữ lưu thông 20 ngày. Do đó, Dự thảo cần làm rõ lợi ích quản lý tăng thêm của việc buộc thương nhân đầu mối sở hữu 40 cửa hàng.
Đáng chú ý, Dự thảo cho phép thuê một số loại tài sản phục vụ kinh doanh xăng dầu nhưng lại đặt yêu cầu sở hữu đối với hệ thống cửa hàng của thương nhân đầu mối. Quy định này có thể buộc doanh nghiệp dồn vốn vào tài sản cố định, làm tăng chi phí đầu tư mà chưa chắc cải thiện tương ứng năng lực cung ứng.
Về cạnh tranh, VCCI cho rằng yêu cầu sở hữu 40 cửa hàng có thể thúc đẩy các đầu mối mua lại cửa hàng độc lập để đáp ứng điều kiện, qua đó thu hẹp khu vực bán lẻ độc lập và gia tăng mức độ tập trung của thị trường.

Vì vậy, VCCI đề nghị chấp nhận kho, cửa hàng thuộc sở hữu, đồng sở hữu hoặc thuê với thời hạn không ngắn hơn thời hạn của Giấy xác nhận, đồng thời xác định rõ quyền sử dụng thực tế, phần năng lực được tính cho từng thương nhân và giữ nguyên nguyên tắc không tính trùng tại khoản 3 Điều 10. Đồng thời không nâng yêu cầu về số cửa hàng thuộc sở hữu lên 40, cân nhắc thay bằng tiêu chí kết quả như sản lượng cung ứng thực tế cho thị trường nội địa, mức tuân thủ dự trữ lưu thông và hợp đồng cung ứng dài hạn;
Một vấn đề khác được VCCI lưu ý là thời điểm áp dụng ngưỡng tổng nguồn tối thiểu. Theo Dự thảo, doanh nghiệp phải đăng ký tổng nguồn năm 2027 trước ngày 30/11/2026, trong khi nghị định chưa được ban hành tại thời điểm góp ý. Điều này có thể khiến doanh nghiệp không có đủ thời gian chuẩn bị phương án nguồn hàng, tài chính và hợp đồng.
VCCI cũng cho rằng cần làm rõ việc xử lý trường hợp không hoàn thành tổng nguồn tối thiểu do nguyên nhân khách quan, như nhà máy lọc dầu dừng vận hành, gián đoạn vận tải quốc tế hoặc thực hiện quyết định điều tiết của cơ quan có thẩm quyền.
Từ đó, VCCI đề nghị xây dựng lộ trình áp dụng ngưỡng tổng nguồn theo từng giai đoạn, kèm đánh giá tác động; cho phép doanh nghiệp tiếp tục đáp ứng điều kiện theo giấy phép, giấy xác nhận hiện hành đến hết thời hạn. Phần tổng nguồn không thực hiện được do bất khả kháng hoặc do thực hiện quyết định điều tiết của cơ quan có thẩm quyền cần được xem xét loại trừ trên cơ sở hồ sơ chứng minh cụ thể.
Đồng quan điểm, Chuyên gia kinh tế PGS TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam cho rằng điều kiện kinh doanh cần tập trung vào khả năng duy trì nguồn hàng, tổ chức phân phối và đáp ứng nhu cầu thị trường. Nếu doanh nghiệp có quyền khai thác hợp pháp, ổn định đối với kho và cửa hàng đi thuê, việc bắt buộc sở hữu tài sản có thể làm tăng rào cản gia nhập mà chưa chứng minh được hiệu quả quản lý tương ứng.
Đặc biệt, việc xem xét thu hồi giấy xác nhận cần phân biệt trường hợp doanh nghiệp không đủ năng lực cung ứng với trường hợp không thể hoàn thành nghĩa vụ do yếu tố ngoài khả năng kiểm soát. Nếu chỉ căn cứ vào kết quả thực hiện mà không đánh giá nguyên nhân, doanh nghiệp có thể phải chịu rủi ro pháp lý dù đã chủ động thực hiện các biện pháp khắc phục.
Hoàn thiện quy định kinh doanh xăng dầu cần hướng tới kiểm soát kết quả, gồm khả năng bảo đảm nguồn cung, mức dự trữ và tính xác thực của giao dịch. Cách tiếp cận này vừa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, vừa hạn chế chi phí tuân thủ và duy trì cạnh tranh trên thị trường.
Bài: Yến Nhung - Ảnh: Quốc Tuấn