Nhiều điều kiện, thủ tục trong kinh doanh xăng dầu được cắt giảm, mở thêm dư địa cho doanh nghiệp nhưng vẫn đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt thị trường…
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 19 về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương. Việc phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh được thực hiện trong 10 lĩnh vực, gồm: hóa chất, điện lực, thuốc lá, xăng dầu, thương mại điện tử, thương mại quốc tế, xuất nhập khẩu, xúc tiến thương mại, hoạt động sở giao dịch hàng hóa và công nghiệp địa phương.

Đáng chú ý, trong lĩnh vực xăng dầu, nghị quyết cắt giảm và bãi bỏ nhiều thủ tục, quy định liên quan đến thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối, đại lý và cửa hàng bán lẻ xăng dầu.
Cụ thể, không thực hiện thủ tục hành chính cấp lại giấy xác nhận đủ điều kiện làm tổng đại lý kinh doanh xăng dầu trên địa bàn từ 2 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên. Thương nhân cũng không phải thực hiện thủ tục cấp sửa đổi, bổ sung giấy xác nhận này.
Nghị quyết cũng đơn giản hóa một số thủ tục trong lĩnh vực xăng dầu, gồm thủ tục cấp, cấp sửa đổi, bổ sung, cấp lại giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu; giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu; giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu; giấy xác nhận đủ điều kiện làm đại lý bán lẻ xăng dầu.
Đặc biệt, nhiều điều kiện kinh doanh được cắt giảm. Với thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, các điều kiện được cắt giảm gồm: doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật; có cầu cảng chuyên dụng nằm trong hệ thống cảng quốc tế; có kho tiếp nhận xăng dầu nhập khẩu dung tích tối thiểu 15.000 m³; có hệ thống phân phối xăng dầu tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ, trong đó ít nhất 5 cửa hàng thuộc sở hữu của doanh nghiệp; có tối thiểu 40 tổng đại lý.
Đối với thương nhân đầu mối kinh doanh nhiên liệu hàng không, nghị quyết quy định không bắt buộc phải có hệ thống phân phối. Tuy nhiên, thương nhân vẫn phải đáp ứng các điều kiện về phương tiện vận tải, xe tra nạp nhiên liệu hàng không, kho tiếp nhận tại sân bay và phòng thử nghiệm đủ năng lực.
Với thương nhân phân phối xăng dầu, các điều kiện được cắt giảm gồm yêu cầu có hệ thống phân phối xăng dầu, bao gồm tối thiểu 5 cửa hàng bán lẻ và tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc các đại lý hoặc thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu được cấp giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu.
Đối với đại lý bán lẻ xăng dầu, thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu, điều kiện được cắt giảm là yêu cầu có cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu hoặc thuê với thời hạn thuê từ 5 năm trở lên.
Với cửa hàng bán lẻ, nghị quyết cắt giảm quy định cửa hàng phải thuộc sở hữu hoặc thuê với thời hạn thuê từ 5 năm trở lên của thương nhân là đại lý, tổng đại lý, thương nhân nhận quyền, thương nhân phân phối hoặc thương nhân đầu mối.
Trường hợp đi thuê cửa hàng bán lẻ xăng dầu, thương nhân đi thuê phải đứng tên tại giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu. Cùng với đó, nghị quyết cắt giảm các quy định liên quan đến thiết kế, xây dựng và trang thiết bị theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu thiết kế cửa hàng xăng dầu, bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Nghị quyết cũng bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ cho thuê cảng, kho tiếp nhận xăng dầu và điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải xăng dầu. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 29/4/2026 và hết hiệu lực kể từ ngày 1/3/2027.
Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng việc cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực xăng dầu được đánh giá là bước đi phù hợp, góp phần giảm chi phí tuân thủ, tạo thêm dư địa cạnh tranh và tăng tính linh hoạt của hệ thống phân phối.
Tuy nhiên, xăng dầu là mặt hàng thiết yếu, liên quan trực tiếp đến an toàn phòng cháy chữa cháy, môi trường và đời sống sản xuất. Vì vậy, việc cắt giảm điều kiện kinh doanh cần đi kèm cơ chế hậu kiểm chặt chẽ. Nới điều kiện đầu vào không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý, mà cần chuyển trọng tâm sang giám sát thực chất hơn trong quá trình doanh nghiệp vận hành.