diendandoanhnghiep.vn

24h

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị không gian biển

Gia Nguyễn

Tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, tại phiên họp sáng 24/10, Quốc hội nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, sau 10 năm thi hành, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, hải đảo; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khai thác, sử dụng tài nguyên biển và thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển.

hoan-thien-khung-phap-ly-phat-trien-kinh-te-bien-24.10.2.jpg
Sáng 24/10, Quốc hội nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) - Ảnh: Media Quốc hội

Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, nhất là yêu cầu thể chế hóa các chủ trương, quan điểm mới của Đảng về xây dựng mô hình quản trị biển hiện đại, triển khai Quy hoạch không gian biển quốc gia, phát triển các ngành kinh tế biển mới, kinh tế biển xanh, chuyển đổi số, một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, bất cập; đặc biệt cần xem xét, bổ sung các quy định mới.

Luật chưa thiết lập đầy đủ khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng không gian biển; chưa có cơ chế hiệu quả để phân bổ, điều phối, xử lý xung đột, chồng lấn trong sử dụng không gian biển và xác định rõ trách nhiệm quản lý trên biển; chưa hoàn thiện các công cụ pháp lý để quản lý, khai thác và phát huy nguồn lực từ biển. Quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển để khai thác, sử dụng tài nguyên biển còn chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trên biển.

Theo Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng việc xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) là cần thiết nhằm hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; tạo cơ sở pháp lý để quản trị biển hiện đại, phát huy hiệu quả nguồn lực từ biển, thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh, bền vững, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn phát triển mới.

Cụ thể, dự án luật hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; thể chế hóa đầy đủ Nghị quyết số 20-NQ/TW và các chủ trương liên quan; chuyển từ tư duy quản lý sang quản trị biển hiện đại, tổng hợp, thống nhất, lấy Quy hoạch không gian biển quốc gia, khoa học, công nghệ và dữ liệu số làm nền tảng.

Xác lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ để phân bổ, khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, bền vững tài nguyên, không gian biển; xử lý chồng lấn, xung đột; hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đăng ký, đấu giá, cấp Giấy chứng nhận, hồ sơ hải chính và các quyền, nghĩa vụ, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng khu vực biển.

hoan-thien-khung-phap-ly-phat-trien-kinh-te-bien-24.10.1.jpg
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày tờ trình dự án luật tại phiên họp - Ảnh: Media Quốc hội

Tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định để khơi thông và huy động nguồn lực; thúc đẩy hạ tầng và các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, số, tuần hoàn; ưu tiên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tài chính xanh và các mô hình kinh tế mới, gắn phát triển với khả năng cân đối ngân sách nhà nước.

Nâng cao hiệu quả phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, ứng phó sự cố, cải thiện và phục hồi môi trường, hệ sinh thái biển; bảo tồn đa dạng sinh học; chủ động thích ứng biến đổi khí hậu và thực hiện đầy đủ điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Bên cạnh đó, phân định rõ quản lý tổng hợp và quản lý chuyên ngành, thẩm quyền trung ương và địa phương; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, quản lý dựa trên dữ liệu, tăng hậu kiểm và trách nhiệm giải trình.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, chủ quyền và lợi ích quốc gia; tăng cường hợp tác quốc tế để thu hút nguồn lực, tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản trị biển, quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường biển; chủ động, tích cực tham gia xây dựng, hoàn thiện và thực hiện đầy đủ điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

“Luật quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển; bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đối tượng áp dụng là cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có liên quan đến quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển; bảo vệ môi trường biển và hải đảo”, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng chia sẻ.

Dự thảo luật được xây dựng với bố cục gồm 06 chương, 76 điều. Chương I (13 điều) quy định chung; Chương II (05 điều) về điều tra, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; Chương III (29 điều) là chương mới, quy định về quản lý, sử dụng không gian biển; Chương IV (07 điều) về quản lý, sử dụng tài nguyên vùng bờ, hải đảo; Chương V (20 điều) về bảo vệ môi trường biển và hải đảo; Chương VI (02 điều) về điều khoản thi hành.

Báo cáo tóm tắt thẩm tra dự án luật tại phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết, Ủy ban tán thành với sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với các lý do nêu tại Tờ trình số 676/TTr-CP của Chính phủ. Hồ sơ được chuẩn bị công phu, đáp ứng yêu cầu quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.

Dự thảo Luật cơ bản phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, đặc biệt là các Nghị quyết số 20-NQ/TW và Chương trình hành động số 34-CTr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị, Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025, Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 nhằm chuyển mạnh từ quản lý theo ngành sang quản trị hiện đại, tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia, hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực biển; đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển. Các nội dung dự thảo Luật cơ bản bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Tuy nhiên, theo Chủ nhiệm Nguyễn Thanh Hải, dự thảo luật điều chỉnh nhiều quan hệ liên quan đến quản lý không gian biển, quyền sử dụng khu vực biển, công trình trên biển, vùng bờ và bảo vệ môi trường liên quan trực tiếp với các Luật chuyên ngành như Luật Biển Việt Nam, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Bộ luật Hàng hải, Luật Thủy sản, Luật Dầu khí, Luật Điện lực, Luật Đất đai, Luật Quy hoạch, Luật Bảo vệ môi trường… vì vậy, một số nội dung trong dự thảo luật cần được rà soát, làm rõ để bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Gia Nguyễn