Thực hành du lịch xanh: Đâu là điểm nghẽn của doanh nghiệp?
Những điểm nghẽn về tư duy, kinh phí, năng lực... của doanh nghiệp du lịch trong quá trình chuyển đổi xanh đang tạo nên “rào cản” trên hành trình nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến.
Phát triển du lịch xanh đã trở thành xu hướng tất yếu toàn cầu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách về bảo vệ môi trường
Doanh nghiệp khó vì đâu?
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 26 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết đã đặt ra mục tiêu phát triển du lịch Việt Nam chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hóa và có giá trị gia tăng cao.
Có thể thấy, du lịch xanh không còn là một khẩu hiệu hay một tùy chọn mang tính phong trào, mà đã trở thành xu thế tất yếu và yêu cầu bắt buộc cho tương lai của ngành du lịch. Theo Báo cáo Du lịch và Phát triển bền vững 2026, có tới 85% du khách cho biết du lịch bền vững rất quan trọng đối với họ. Khảo sát cũng cho thấy 35% du khách mong muốn có thêm các tour và trải nghiệm bảo vệ môi trường, hỗ trợ cộng đồng địa phương. Điều này chứng minh chỉ số xanh đang trực tiếp định hình lại năng lực cạnh tranh của mọi điểm đến trên bản đồ thế giới.

Theo các khảo sát, hiện nay có một số mô hình du lịch xanh tiêu biểu đã và đang vận hành thành công như Hội An (Đà Nẵng) với mục tiêu giảm tối thiểu hơn 60% rác thải nhựa, hay đảo Cô Tô (Quảng Ninh) cắt giảm đến 75% rác thải nhựa nhờ kiểm soát nguồn thải... Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn và điểm nghẽn trong quá trình chuyển đổi sang mô hình du lịch xanh tại các doanh nghiệp và điểm đến bắt nguồn từ gánh nặng tài chính, sự thiếu hụt kiến thức và năng lực thực thi, sự đứt gãy trong chuỗi liên kết giữa các khâu và thiếu hụt nguồn cung ứng nguyên liệu thân thiện với môi trường...
Phân tích rõ hơn, ông Nguyễn Đức Quỳnh - Tổng Giám đốc Furama Resort Danang cho rằng các điểm nghẽn đến từ tư duy về chi phí chuyển đổi khi chi phí lớn khiến các chủ doanh nghiệp băn khoăn về hiệu quả kinh tế ngắn hạn và lâu dài. Tiếp đến là hạn chế về nhận thức và năng lực, lãnh đạo doanh nghiệp thiếu kiến thức và năng lực thực thi do chưa hiểu rõ khái niệm “xanh” là trồng cây, tiết kiệm hay phải tuân theo các tiêu chí cụ thể nào?
“Cùng với đó là sự lúng túng trong định hướng và chứng nhận. Hiện nay doanh nghiệp thiếu sự hướng dẫn cụ thể và vẫn còn lo ngại các chương trình xanh tự phát hoặc các chứng nhận xanh được cấp nhưng không có giá trị công nhận toàn cầu. Ngoài ra còn xuất hiện rào cản từ tâm lý du khách. Cụ thể, khách du lịch coi chuyến đi là sự tự thưởng cho bản thân nên thường có tâm lý e ngại hoặc không thích khi cơ sở lưu trú yêu cầu họ tiết kiệm”, ông Quỳnh dẫn chứng.
Tương tự, ông Lê Quốc Việt - Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã du lịch làng chài Tân Thành - Hội An, cho rằng điểm nghẽn còn đến từ quy mô tổ chức. Đối với các điểm đến quy mô lớn, ông Việt cho rằng khó khăn đến từ việc phải đồng bộ tổng thể về mỹ quan và trật tự đô thị; du khách phải cảm nhận được không gian “xanh” lan tỏa khắp mọi nơi. Đối với các điểm đến nhỏ nằm xa trung tâm, khó khăn đến từ việc kết nối và liên kết cùng thực hiện xanh bởi khoảng cách địa lý.
“Chưa kể đến, nhiều cơ sở nhỏ vẫn thiếu kinh nghiệm, chưa được hướng dẫn thực hành chuyên sâu và thiếu vật liệu thay thế. Đặc biệt, chưa có sản phẩm chuẩn xanh hoàn toàn có thể thay thế triệt để túi nilon và nhựa dùng một lần. Tiếp đến, vẫn thiếu kênh thông tin kết nối giữa nơi phát sinh rác hữu cơ (nhà hàng) và nơi có nhu cầu tái chế (nông trại nuôi ruồi vàng làm thức ăn gia súc, cơ sở tái chế chai nhựa)...”, ông Việt nêu vấn đề.
Dẫn chứng cụ thể, ông Việt đề cập đến mô hình Trạm phục hồi tài nguyên tại Làng chài Tân Thành (Hội An) do cộng đồng tự góp tiền xây dựng. Tuy nhiên, khi dự án rút đi thì không có đơn vị tiếp quản xử lý rác, dẫn đến thiếu tính bền vững.
Thêm chính sách hỗ trợ chuyển đổi xanh
Để các mô hình chuyển đổi xanh không dừng lại ở mức độ đơn lẻ, ông Vũ Quang Dũng – Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho biết đơn vị đang phối hợp cùng các bộ, ngành đang khẩn trương đề xuất cụ thể hóa hành lang pháp lý tập trung vào 4 nhóm chính sách cốt lõi. Đầu tiên là ưu tiên tín dụng xanh và lãi suất vốn vay.

Các đơn vị sẽ hướng dẫn các tổ chức tín dụng ưu tiên nguồn vốn, áp dụng lãi suất ưu đãi thấp hơn từ 1,5% đến 2% so với lãi suất thông thường cho các dự án du lịch đạt tiêu chí xanh như xây dựng khách sạn tuần hoàn, điện mặt trời mái nhà, xử lý nước thải... Đồng thời, áp dụng thuế nhập khẩu ưu đãi đối với trang thiết bị, công nghệ tiết kiệm năng lượng, tái chế rác mà trong nước chưa sản xuất được
Tiếp đến là hỗ trợ phát triển hạ tầng. Doanh nghiệp đầu tư vào dòng sản phẩm du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp, nông thôn tại các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn sẽ được hưởng ưu đãi thuế đất, tiền thuê đất. Cùng với đó là tối giản thủ tục giao/thuê đất để làm cơ sở dịch vụ không kiên cố như điểm dừng chân, đường dạo sinh thái... mà không làm thay đổi mục đích sử dụng đất chính
“Một nhóm khác là tăng cường hiệu quả Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch và chuyển đổi số. Tại đây sẽ hỗ trợ chi phí đánh giá ban đầu và cấp chứng nhận nhãn xanh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; hỗ trợ tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng vận hành du lịch giảm phát thải, quản trị rác thải nhựa cho cộng đồng làm du lịch. Nhóm chính sách cuối cùng là ưu tiên trong chính sách xúc tiến và quảng bá quốc gia. Tại đây, doanh nghiệp sẽ được dành không gian quảng bá trực quan, ưu tiên giới thiệu các sản phẩm, thương hiệu đạt chứng nhận xanh của địa phương tại các hội chợ du lịch lớn”, ông Vũ Quang Dũng cho hay.
Theo các doanh nghiệp, để chuyển đổi xanh ngành du lịch đạt hiệu quả cao, cần có sự đồng bộ và phối hợp chặt chẽ từ cơ chế quản lý nhà nước, chiến lược của doanh nghiệp cho đến ý thức của du khách. Tiếp đến, cần Ban hành Bộ tiêu chí du lịch xanh quốc gia và các bộ tiêu chí địa phương để doanh nghiệp có căn cứ thực hiện. Hơn hết, doanh nghiệp cần có các gói hỗ trợ, ưu đãi đầu tư... để có nguồn lực triển khai trong thời gian tới.
Tuấn Vỹ