Sửa Luật Đầu tư: Cần cơ chế thúc đẩy liên kết FDI với doanh nghiệp nội địa
Góp ý sửa đổi Luật Đầu tư, nhiều ý kiến cho rằng cần có cơ chế đủ mạnh để thúc đẩy liên kết, nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt và gia tăng giá trị đóng góp của khu vực FDI.
Trong quá trình lấy ý kiến đối với Dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi (Dự thảo), một trong những vấn đề được quan tâm là làm thế nào để nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với khu vực kinh tế trong nước. Đây không chỉ là câu chuyện thu hút thêm vốn đầu tư, mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng lan tỏa công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và cải thiện năng suất của toàn bộ nền kinh tế.

Góp ý về Dự thảo, đại biểu Lê Quang Mạnh, Đoàn ĐBQH TPHCM cho rằng, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường liên kết giữa khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với doanh nghiệp trong nước, qua đó nâng cao năng suất chung của nền kinh tế và tạo động lực cho tăng trưởng bền vững.
Phân tích thực trạng phát triển của khu vực FDI trong những năm qua, đại biểu Lê Quang Mạnh cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang tồn tại tình trạng mà báo chí thường gọi là “một nền kinh tế có hai nền kinh tế”, hay hình ảnh những “ốc đảo FDI” trong nền kinh tế. Mức độ liên kết, gắn kết và lan tỏa của khu vực FDI đối với phần còn lại của nền kinh tế, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước, vẫn còn rất hạn chế.
Đại biểu nhấn mạnh, đây là một trong những nguy cơ lớn đối với tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam. Nếu không cơ cấu lại, không tạo được một cấu trúc sản xuất có tính gắn kết giữa các khu vực, từ doanh nghiệp lớn đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, thì sẽ rất khó nâng cao năng suất chung của nền kinh tế và đạt được các mục tiêu tăng trưởng trong những năm tới.
Từ thực tế này, đại biểu cho rằng, việc Dự thảo chỉ quy định khuyến khích tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa là chưa đủ, khó tạo ra chuyển biến thực chất trong thực tiễn. Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy định theo hướng thiết kế các cơ chế, chính sách đủ mạnh, có tính khả thi để biến nhu cầu mua sắm, sản xuất và cung ứng của doanh nghiệp FDI thành cơ hội phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam.
Theo đại biểu, Việt Nam không thể áp đặt một cách hành chính các tỷ lệ nội địa hóa đối với doanh nghiệp FDI. Tuy nhiên, hoàn toàn có thể thiết kế các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm khuyến khích và thúc đẩy doanh nghiệp FDI tăng cường liên kết với các nhà cung cấp trong nước.
Chẳng hạn, cần nghiên cứu quy định cụ thể về trách nhiệm công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa của doanh nghiệp FDI gắn với việc áp dụng các chính sách ưu đãi; xác định rõ mức độ công bố thông tin, trách nhiệm thực hiện và cơ chế theo dõi, đánh giá việc thực hiện các cam kết.
Cùng với đó, cần có các chính sách hỗ trợ trực tiếp, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia. Việc kết nối cung – cầu, hỗ trợ đổi mới công nghệ và nâng cao tiêu chuẩn sản xuất cũng cần được chú trọng để doanh nghiệp Việt đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài.
Cũng quan tâm đến vấn đề này, PGS TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng, để tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp Việt có thêm cơ hội tham gia chuỗi cung ứng, tiếp nhận công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh khi Việt Nam tiếp tục mở cửa thị trường đầu tư, cần xây dựng cơ chế hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước.

Theo chuyên gia, doanh nghiệp FDI thường có lợi thế về công nghệ, năng lực tài chính, thương hiệu, hệ sinh thái và mô hình quản trị hiện đại. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về năng lực công nghệ và nguồn lực, nên khó đảm nhận độc lập các đơn hàng lớn, có yêu cầu cao về khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển công nghệ chiến lược và nâng cao năng suất, nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ công nghệ sẽ ngày càng tăng. Doanh nghiệp Việt cần chủ động kết nối với doanh nghiệp FDI để cùng tham gia thực hiện đơn hàng, qua đó vừa mở rộng cơ hội kinh doanh, vừa học hỏi và từng bước làm chủ công nghệ.
Một giải pháp được PGS TS Nguyễn Thường Lạng đề cập là thúc đẩy các hình thức hợp tác kinh doanh, liên doanh. Theo đó, doanh nghiệp Việt có thể đóng góp vốn, quyền sử dụng đất, máy móc, thiết bị hoặc tài sản vô hình; doanh nghiệp FDI đóng góp công nghệ, bí quyết kỹ thuật, vốn và kinh nghiệm quản trị. Tỷ lệ góp vốn và phân chia lợi ích cần được các bên thỏa thuận phù hợp với năng lực, mức độ đóng góp và rủi ro của mỗi bên.
Bên cạnh đó, có thể nghiên cứu cơ chế tạo điều kiện để nhà đầu tư trong nước tham gia sở hữu cổ phần tại các doanh nghiệp FDI thông qua thị trường chứng khoán, từ đó từng bước tiếp cận và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, để những mô hình hợp tác này phát huy hiệu quả, việc hoàn thiện chính sách cần đi đôi với tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời khuyến khích chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực sản xuất tại Việt Nam. Doanh nghiệp trong nước cũng cần chủ động đầu tư, đổi mới quản trị và nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bài: Yến Nhung - Ảnh: Quốc Tuấn