Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XVI, tại phiên họp sáng 23/10, Chính phủ đã trình Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày tờ trình tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, việc sửa đổi luật nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương mới, tháo gỡ những vướng mắc thực tiễn, nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư, tăng cường liên kết với kinh tế trong nước, đồng thời đơn giản hóa thủ tục, thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, ổn định, nhất quán, phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu, phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028. Đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước theo hướng phân cấp, phân quyền rõ ràng đi đôi với tăng cường điều phối quốc gia, liên kết vùng, thanh tra, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Dự thảo Luật gồm 3 điều, tập trung vào 4 nội dung cơ bản: Hoàn thiện chính sách tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; hoàn thiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư gắn với cam kết của nhà đầu tư; đơn giản hóa thủ tục đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đẩy mạnh chuyển đổi số.
Thẩm tra dự án luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi nêu rõ, Ủy ban cơ bản nhất trí với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng, nhất là Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và Kết luận số 18-KL/TW, đồng thời tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách.
Tuy nhiên, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng đề nghị Chính phủ rà soát kỹ các nội dung sửa đổi với các luật có liên quan để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Cụ thể, đối với nhà đầu tư nước ngoài, thống nhất với định hướng mở rộng tiếp cận thị trường phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tuy nhiên, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cần cân nhắc kỹ quy định giao cho Chính phủ xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với các điều kiện được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để đảm bảo tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật và không trái với Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Bên cạnh đó, theo Ủy ban Kinh tế và Tài chính, việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp và trên cơ sở đánh giá đầy đủ, toàn diện tác động, nhất là tác động đối với các ngành, lĩnh vực nhạy cảm và yêu cầu đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Về Quỹ hỗ trợ đầu tư và ưu đãi hỗ trợ đầu tư đặc biệt, giao Chính phủ quy định chi tiết Quỹ hỗ trợ đầu tư mà không phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ban hành, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị giữ như quy định hiện hành. Theo đó, Chính phủ báo cáo với Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ban hành nhằm đảm bảo giám sát đối với việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính quốc gia trong bối cảnh Quỹ có quy mô tài chính lớn và phạm vi tác động rộng.
Đối với ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị làm rõ ngay trong luật các nguyên tắc, tiêu chí cơ bản để xác định dự án được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt, nhất là các tiêu chí về tác động lan tỏa, tạo động lực phát triển và đóng góp nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; hạn chế giao quá nhiều nội dung có tính chất quyết định cho văn bản dưới luật. Đặc biệt, cần làm rõ cơ chế gắn với ưu đãi, hỗ trợ với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Cùng với các nội dung đã nêu, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng đề nghị xem xét, cân nhắc nội dung liên quan về thủ tục đầu tư và sự thống nhất với pháp luật chuyên ngành, đối với các quy định về lựa chọn nhà đầu tư đối với các dự án có sử dụng khu vực biển; thủ tục đầu tư đặc biệt; quản lý nhà nước, dữ liệu và điều khoản chuyển tiếp, đối với Cổng một cửa đầu tư quốc gia...