ESG thay đổi đáng kể nguồn vốn, tín dụng và năng lực doanh nghiệp
Ngân hàng và doanh nghiệp cùng cho biết, việc thực hành ESG và phân loại theo tiêu chuẩn ESG có tác động đáng kể đến phân bổ vốn, quyết định cho vay, cũng như khả năng tiếp cận vốn.
Sáng kiến kinh tế tuần hoàn không chỉ nhằm giảm thiểu chất thải mà còn giúp doanh nghiệp tận dụng những nguồn lực đang chưa được sử dụng hiệu quả trong quá trình sản xuất. Đồng thời, đây là một trong những hoạt động ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) trong sản xuất, giúp doanh nghiệp không chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững, còn được đánh giá cao trong quá trình đối thoại cùng các đối tác, nhà đầu tư coi trọng ESG, qua đó thuận lợi tiếp cận nguồn vốn xanh, ông Phan Minh Thông - Chủ tịch HĐQT Phúc Sinh Group chia sẻ quan điểm về ESG trong phiên thảo luận chuyên đề "ESG và Kinh tế Tuần hoàn" của Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 (AEF 2026).

Kinh tế tuần hoàn và tư duy tạo giá trị
Phát biểu tại phiên thảo luận, ông Thông cho rằng kinh tế tuần hoàn không chỉ là câu chuyện giảm chất thải, mà là tư duy tạo ra giá trị mới từ những nguồn lực mà chúng ta từng chưa khai thác hết. Ông giới thiệu, Phúc Sinh Group nhà sản xuất cà phê và hồ tiêu, đã hoạt động được 25 năm. Năm ngoái, doanh thu của công ty đạt khoảng 413 triệu USD. Phúc Sinh có 8 nhà máy, trong đó có một nhà máy cà phê nguyên liệu, 1 nhà máy cà phê hòa tan và các nhà máy tiêu, hồ tiêu tiệt trùng. Phúc Sinh làm việc trực tiếp với các vùng trồng và người dân địa phương, trong đó hơn 95% là người Việt Nam.
Minh chứng cho quan điểm của mình, ông Thông nói, tại Phúc Sinh, chúng tôi đưa tư duy đó vào chính hoạt động kinh doanh cốt lõi, từ vùng nguyên liệu đến sản xuất và chuỗi cung ứng.
"Tôi xin chia sẻ một ví dụ từ ngành cà phê. Trước đây, nhiều nông dân thu hoạch khi tỷ lệ quả chín trên cành chỉ khoảng 30%. Chúng tôi hướng dẫn người nông dân thay đổi phương thức thu hoạch, hướng tới 100% quả chín, đồng thời thu mua với mức giá cao hơn để khuyến khích. Kết quả hướng đến không chỉ là cà phê chất lượng cao hơn, mà còn là nâng cao giá trị sản phẩm và thu nhập cho người nông dân.
Nhưng với chúng tôi, câu chuyện không dừng lại ở đó. Trước đây, vỏ quả cà phê chủ yếu được tận dụng làm phân bón hoặc xử lý như một loại phụ phẩm. Chúng tôi đã đầu tư công nghệ để phát triển trà Cascara từ nguồn nguyên liệu này, biến một phụ phẩm có giá trị thương mại thấp thành sản phẩm có giá trị cao hơn. Với chúng tôi, kinh tế tuần hoàn chính là tìm ra cách sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và tạo thêm giá trị từ những gì trước đây chưa được khai thác đúng mức.
Đó chính là điều tôi muốn nhấn mạnh: kinh tế tuần hoàn không chỉ giúp chúng ta sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, mà còn mở ra những giá trị kinh tế hoàn toàn mới".
Tuy nhiên, theo ông Phan Minh Thông, không có một mô hình duy nhất phù hợp với tất cả doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp cần bắt đầu từ chính nội lực của mình: đánh giá nguồn lực, nhận diện những giá trị đang bị bỏ phí, lựa chọn giải pháp phù hợp với năng lực tài chính và thị trường, sau đó từng bước mở rộng khi đã chứng minh được hiệu quả.
"Theo tôi, thước đo của kinh tế tuần hoàn không nằm ở việc chúng ta nói về phát triển bền vững nhiều đến đâu, mà ở việc chúng ta tạo ra thêm bao nhiêu giá trị từ nguồn lực hiện có, cải thiện cuộc sống của bao nhiêu người và xây dựng được một mô hình kinh doanh bền vững đến mức nào, ông nói.
3 điều kiện để doanh nghiệp phát triển kinh tế tuần hoàn
Ông Phan Minh Thông chia sẻ có 3 điều kiện cốt lõi để doanh nghiệp thực hành kinh tế tuần hoàn từ sáng kiến của một doanh nghiệp trở thành chuỗi giá trị chung: hiệu quả kinh tế, hợp tác cùng có lợi và một hệ sinh thái hỗ trợ phù hợp.
Thứ nhất, hiệu quả kinh tế. Kinh tế tuần hoàn phải tạo ra giá trị thực chất, từ tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí đến phát triển sản phẩm và thị trường mới. Bởi phát triển bền vững chỉ có thể duy trì lâu dài khi gắn liền với hiệu quả kinh doanh.
Thứ hai, hợp tác trong chuỗi giá trị, được hỗ trợ bởi công nghệ. Các doanh nghiệp cần phối hợp với nhà cung cấp, khách hàng và đối tác công nghệ để cùng tạo ra giá trị và chia sẻ lợi ích. Tôi đặc biệt nhấn mạnh vai trò của công nghệ trong quản trị, bởi nếu vẫn phụ thuộc quá nhiều vào các quy trình thủ công và dữ liệu phân tán, doanh nghiệp sẽ mất nhiều thời gian, nguồn lực và khó mở rộng mô hình tuần hoàn một cách hiệu quả. Trong bối cảnh hiện nay, ứng dụng công nghệ không chỉ giúp nâng cao hiệu suất mà còn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp duy trì năng lực cạnh tranh. Công nghệ giúp chúng ta quản trị hiệu quả hơn, dữ liệu giúp chúng ta đo lường kết quả, còn hợp tác giúp những giá trị đó được nhân rộng trong toàn chuỗi.
Thứ ba, một hệ sinh thái hỗ trợ phù hợp. Cần có khả năng tiếp cận nguồn vốn, cơ chế kết nối và chính sách phù hợp để các mô hình hiệu quả được nhân rộng, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trả lời câu hỏi về việc làm thế nào để các doanh nghiệp Việt Nam có thể kết nối với các nguồn lực? Làm thế nào để họ tiếp cận và sử dụng được các quỹ hỗ trợ như ông vừa nêu, xuất phát từ thực tiễn, ông Thông cho biết, Phúc Sinh đạt được hiệu quả tài chính rất tốt từ việc sở hữu các chứng nhận quốc tế, bởi công ty hiện là đơn vị có quy mô diện tích và số lượng nông hộ đạt chứng nhận lớn nhất tại Việt Nam theo báo cáo của tổ chức Oxfam. Doanh nghiệp nhận thức rõ mình đang có lợi thế lớn nhờ việc kiên trì tuân thủ các quy chuẩn khắt khe từ rất sớm.
Từ phía các doanh nghiệp nói chung, ông Thông nhấn mạnh, cần vai trò cầu nối của các tổ chức Hiệp hội. Chẳng hạn, tại TP HCM, HUBA có thể đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp, người mua, đơn vị tái chế, đối tác công nghệ, tổ chức tài chính và chính quyền Thành phố.
Mỗi bên đều có nguồn lực và thế mạnh riêng, nhưng thách thức là làm thế nào để kết nối những nguồn lực đó thành một chuỗi giá trị có hiệu quả. Tôi cho rằng chúng ta không cần mọi doanh nghiệp phải tự mình làm tất cả. Điều quan trọng là mỗi bên làm tốt thế mạnh của mình và cùng hợp tác để tạo ra giá trị chung.
Doanh nghiệp tập trung đổi mới sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh; đơn vị tái chế biến phụ phẩm thành tài nguyên; đối tác công nghệ cung cấp giải pháp quản trị và tối ưu hóa nguồn lực; tổ chức tài chính hỗ trợ vốn cho những mô hình khả thi; còn chính quyền Thành phố tạo môi trường và cơ chế thuận lợi để thúc đẩy hợp tác.
"HUBA không làm thay các bên, mà giúp họ hiểu nhu cầu của nhau, tìm đúng đối tác và biến cơ hội kết nối thành hợp tác và phát triển. Tôi tin rằng sức mạnh của kinh tế tuần hoàn không nằm ở việc một doanh nghiệp làm tất cả, mà ở chỗ mỗi doanh nghiệp làm tốt phần việc của mình và cùng nhau tạo nên một chuỗi giá trị mà không bên nào có thể xây dựng một cách độc lập", theo Chủ tịch Phúc Sinh Group.
ESG chi phối quyết định cho vay của ngân hàng ra sao?
Từ góc nhìn ngân hàng, tại phiên thảo luận thứ nhất của chuyên đề, ông Hà Huy Cường - Phó Tổng Giám đốc Nam A Bank chia sẻ, tại Nam A Bank, các yếu tố ESG đã được nâng tầm từ một hoạt động trách nhiệm xã hội thành tiêu chuẩn bắt buộc và bộ lọc rủi ro cốt lõi khi đánh giá doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Ngân hàng tích hợp chặt chẽ ESG vào quy trình thẩm định thông qua Hệ thống Quản lý Rủi ro Môi trường và Xã hội (ESMS) theo tiêu chuẩn quốc tế của IFC.

Cách thức ESG ảnh hưởng đến Cho vay và Phân bổ vốn tại Nam A Bank, theo ông Cường, thể hiện trước hết ở mở rộng phân bổ vốn. Nam A Bank nhận các nguồn vốn xanh lớn từ quốc tế (như SIFEM của Thụy Sĩ, Proparco của Pháp, hay GCPF…). Nguồn vốn này được ngân hàng ưu tiên phân bổ riêng cho các SME chứng minh được các yếu tố "Xanh" (tiết kiệm 20% năng lượng, giảm phát thải CO2, nông nghiệp công nghệ cao).
Ông Cường lấy ví dụ về bằng chứng có khả năng làm "thay đổi đáng kể" quyết định tín dụng: Trong quy trình cho vay SME, đánh giá tài chính vẫn mang tính trọng yếu, nhưng thông tin ESG đóng vai trò "bộ lọc loại trừ rủi ro" hoặc "bộ đo lường rủi ro" - và ví dụ là bằng chứng ESG có thể xoay chuyển hoàn toàn quyết định tín dụng của ngân hàng từ Từ chối (hoặc hạ xếp hạng) sang Phê duyệt (áp dụng ưu đãi lãi suất): Một doanh nghiệp SME trong ngành dịch vụ khách sạn nộp hồ sơ xin vay vốn đầu tư hạ tầng kinh doanh.
Ngân hàng đánh giá tài chính ban đầu: Đạt yêu cầu, biên lợi nhuận ổn định, tài sản thế chấp đủ quy chuẩn. Tuy nhiên: Quá trình đầu tư chưa ý thức được các phương thức tiết kiệm năng lượng, sử dụng nước hiệu quả và lựa chọn các vật liệu chưa thân thiện với môi trường. Nếu không có định hướng cải thiện ESG, doanh nghiệp chỉ nhận được hạn mức cơ bản với lãi suất thông thường.
Doanh nghiệp cùng với ngân hàng và các đơn vị tư vấn giải pháp cải thiện ESG, từ đó dịch chuyển theo định hướng kinh doanh hiệu quả năng lượng và thân thiện môi trường, đạt được các chỉ số và được chứng nhận bởi các tổ chức đánh giá độc lập quốc tế - Báo cáo kiểm toán năng lượng độc lập đáp ứng năng lượng của quỹ xanh GCPF mà Nam A Bank hợp tác.
Kết quả thay đổi quyết định tín dụng của Ngân hàng: Từ góc nhìn rủi ro, bằng chứng này triệt tiêu "rủi ro chuyển đổi" (transition risk) và "rủi ro thị trường" (lo ngại mất khách hàng vì không hợp chuẩn xanh). Khả năng trả nợ ổn định hơn trong tương lai.
Hành động phân bổ vốn: Hồ sơ lập tức được chuyển từ danh mục "Cho vay thương mại thông thường" sang "Danh mục Tín dụng Xanh ưu tiên từ nguồn vốn quốc tế".
Kết quả thực tế: Doanh nghiệp được phê duyệt tăng hạn mức cho vay, đồng thời được giảm lãi suất từ 1% so với biểu lãi suất thông thường, ông Cường nêu.
Ông Hà Huy Cường cũng cho biết để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) có kế hoạch cải thiện ESG mặc dù kinh doanh rất đáng tin cậy nhưng lại thiếu dữ liệu lịch sử (doanh nghiệp mới chuyển đổi hoặc chưa có hệ thống ESG bài bản), Nam A Bank hiện áp dụng các cơ chế tài chính linh hoạt và mô hình đánh giá hiện đại dựa trên tiềm năng tương lai thay vì chỉ nhìn vào quá khứ. Thứ nhất, chuyển từ "Thẩm định dựa trên lịch sử" sang "Thẩm định dựa trên dòng tiền dự án": Cho vay theo dòng tiền (Cash-flow based lending): Thay vì yêu cầu báo cáo tài chính 3 năm liên tiếp, ngân hàng tập trung đánh giá tính khả thi của phương án kinh doanh tương lai. Nếu doanh nghiệp có hợp đồng kinh tế đầu ra dài hạn, với các đối tác uy tín cam kết thu mua sản phẩm xanh/bền vững, ngân hàng sẽ dùng chính dòng tiền từ hợp đồng này làm cơ sở cấp tín dụng.
Cơ chế tài trợ chuỗi cung ứng (Supply Chain Finance): Nếu doanh nghiệp là nhà cung cấp cho các doanh nghiệp lớn (Anchor buyers) đã có uy tín, ngân hàng sẽ dựa vào xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp lớn đó để cấp vốn cho bạn, giảm bớt áp lực về hồ sơ lịch sử của SME.
Ngoài ra, ngân hàng cũng sử dụng cấu trúc "Tín dụng liên kết bền vững". Cam kết dựa trên mục tiêu tương lai (KPIs): Ngân hàng có thể giải ngân dựa trên một kế hoạch cải thiện ESG có lộ trình rõ ràng. Doanh nghiệp sẽ cam kết đạt được các chỉ số ESG cụ thể trong tương lai. Cơ chế lãi suất: Lãi suất ban đầu có thể ở mức thông thường, nhưng ngân hàng sẽ giảm lãi suất nếu doanh nghiệp hoàn thành ESG đã cam kết trong kế hoạch.
Bên cạnh đó, tận dụng nguồn hỗ trợ từ bên thứ ba và Quỹ tài chính quốc tế, Nam A Bank thường kết hợp với các định chế tài chính như IFC, FMO, ResponsAbility để cung cấp các chương trình "Hỗ trợ kỹ thuật" (Technical Assistance). Doanh nghiệp theo đó có thể được hỗ trợ chuyên gia độc lập để kiểm toán năng lượng, thiết lập hệ thống đo đạc dữ liệu đạt chuẩn, ông Hà Huy Cường chia sẻ.
Trong khi đó, ông Hoàng Mạnh Thắng, Phó Tổng giám đốc, EY Việt Nam khẳng định: "Trust - niềm tin, là yếu tố quan trọng hàng đầu để doanh nghiệp có thể tiếp cận các dòng vốn ESG và kết nối cùng các đối tác, khơi thông mọi cơ hội kinh doanh, chuyển đổi xanh".

Nhấn mạnh vai trò của đầu tư và hợp tác đối tác công - tư trong áp dụng thúc đẩy kinh tế tuần hòa ở quy mô siêu đô thị TP HCM, ông Ashish Joshi, Tổng Giám đốc Suntory PepsiCo Việt Nam, đại diện Ban Cố vấn PRO Vietnam cho hay, thứ nhất, TP HCM cần tổ chức mạng lưới thu gom trên toàn thành phố. Các doanh nghiệp riêng lẻ có thể gặp khó khăn khi tự mình thiết lập một mạng lưới thu gom đồng bộ trên toàn thành phố. Thành phố là chủ thể có vị thế phù hợp nhất để dẫn dắt nỗ lực này, nhờ vai trò trong quy hoạch đô thị, khả năng tiếp cận các địa điểm phù hợp và năng lực điều phối nguồn lực công cũng như bảo đảm công tác quản lý nhất quán.

Thứ hai, tạo điều kiện đầu tư vào các cơ sở thu hồi vật liệu (MRF).
Hệ thống cũng cần các cơ sở thu hồi vật liệu (MRF) để tập kết và phân loại những vật liệu có thể tái chế đã được thu gom trước khi chuyển đến các cơ sở tái chế. Khu vực tư nhân có thể đầu tư và vận hành các cơ sở MRF, nhưng cần có quy hoạch và định hướng rõ ràng ở cấp thành phố để xác định địa điểm phù hợp, đồng thời bảo đảm các cơ sở này được tích hợp với mạng lưới thu gom và hệ thống tái chế rộng hơn.
Đặc biệt, cần tăng cường quan hệ đối tác công – tư. Thành phố có thể đưa ra định hướng chiến lược và xây dựng khuôn khổ tạo điều kiện thuận lợi, trong khi các nhà sản xuất, tổ chức PRO và đối tác thuộc khu vực tư nhân đóng góp nguồn lực, chuyên môn kỹ thuật và vốn đầu tư, đồng thời kết nối các hệ thống thu gom với những đơn vị tái chế đủ tiêu chuẩn, ông nhấn mạnh.
Lê Mỹ