diendandoanhnghiep.vn

Tín dụng - Ngân hàng

Khơi thông 7 nguồn lực vốn trong nền kinh tế

Lê Mỹ

Để đạt các mục tiêu tăng trưởng cao, từ nay đến năm 2030, trung bình mỗi năm cả nước cần từ 280 - 300 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng vốn bình quân 14%/năm.

Đây là phân tích của TS Cấn Văn Lực, Kinh tế gia trưởng BIDV, về nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế trong giai đoạn tăng trưởng cao.

Phát biểu tại phiên thảo luận chuyên đề Huy động và kết nối dòng vốn quốc tế cho TP.HCM trong khuôn khổ Diễn đàn kinh tế Mùa Thu 2026, TS Cấn Văn Lực cho rằng giữa bối cảnh dòng vốn toàn cầu tìm kiếm các thị trường mới, bài toán đặt ra cho TP HCM không chỉ là thu hút vốn, mà còn kết nối đúng nguồn vốn với đúng cơ hội đầu tư, tạo ra động lực tăng trưởng thực tế.

Cấn Văn Lực
TS Cấn Văn Lực, Kinh tế gia trưởng BIDV

Bài toán thu hút vốn

Theo TS Cấn Văn Lực, từ kinh nghiệm quốc tế, các quốc gia trong thời kỳ tăng trưởng 2 con số luôn có nhu cầu vốn rất lớn.

Bài học tổng kết từ 5 quốc gia có quy mô tương đồng từng đạt tốc độ tăng trưởng quanh mức 10%/năm cho thấy tổng vốn đầu tư xã hội phải duy trì ở mức 35% - 40% GDP, với tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư hàng năm đạt 13 - 15%/năm.

Và Việt Nam nói chung, TP HCM nói riêng cũng không nằm ngoài nguồn lực này.

“Đối với Việt Nam, chúng tôi tổng kết từ thời kỳ Đổi Mới đến nay, yếu tố vốn cũng đóng góp 45 - 50% GDP. Trong giai đoạn tới, dù năng suất tổng nhân tố (TFP) cải thiện, quy mô vốn đầu tư của Việt Nam vẫn phải duy trì khoảng 40% GDP và đóng góp 40% - 42% cho tăng trưởng kinh tế” , TS Cấn Văn Lực cho biết.

Riêng TP HCM chiếm khoảng 22% nhu cầu vốn cả nước. Trong khi đó, ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 20%-22%, phần còn lại phải huy động từ khu vực tư nhân và nguồn vốn quốc tế.

Nhu cau tai luc

Hiện tại, vốn tư nhân trong nước đóng góp cho tăng trưởng của TP HCM chỉ khoảng 50% (thấp hơn bình quân cả nước là 55%), nhưng bù lại vốn FDI lại đóng góp cao hơn bình quân cả nước, chiếm 21% (bình quân cả nước là 17%).

Do đó, chuyên gia cho rằng vốn tư nhân rất quan trọng và đây là nguồn lực TP HCM cần tập trung thu hút.

Thách thức lớn là cấu trúc huy động vốn còn phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng. Theo số liệu được chuyên gia phân tích, tín dụng ngân hàng chiếm khoảng 51% tổng nguồn vốn, tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức 144%, trong khi thị trường cổ phiếu và trái phiếu cung cấp khoảng 23%.

Cấu trúc này đặt ra yêu cầu phát triển các kênh vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu đầu tư vào hạ tầng, công nghệ và các lĩnh vực tăng trưởng mới.

Cơ cấu kênh vốn

Một điểm đáng chú nữa là nguồn tiền tiết kiệm trong dân đang rất lớn nhưng đang có xu hướng giảm dần.

Trung bình từ 2025 về trước, Việt Nam có lợi thế nguồn tiết kiệm trong dân tương đương 35% GDP, cao hơn tỷ lệ đầu tư thực tế khoảng 31% GDP. Tức có khoảng 4% tiền nhàn rỗi. Nhưng tỷ lệ này đang có xu hướng thu hẹp nhanh, dự kiến đến năm 2026 chỉ chiếm khoảng 33% GDP.

Do đó, không thể tiếp tục trông chờ vào nguồn tiền gửi ngắn hạn trong dân để tài trợ cho các dự án hạ tầng 10-20 năm.

Tăng trưởng vốn

Khơi 7 nguồn lực vốn

Để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn, TS Cấn Văn Lực cho rằng cần chủ động khai thác 7 nhóm nguồn lực tài chính bổ sung vốn cho nền kinh tế, để giảm phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng, bao gồm: Tài chính xanh, nâng hạng thị trường chứng khoán, thị trường carbon, quản lý tài sản số, thu hút kiều hối và phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế.

Đối với nguồn lực thứ nhất là phát triển thị trường tài chính xanh và tài chính quốc tế, TS Cấn Văn Lực cho rằng với kênh này, TP HCM có lợi thế Trung tâm Tài chính Quốc tế, cần chuẩn hóa danh mục dự án, chương trình cụ thể để giải ngân thực tế, thay vì dừng lại ở các Biên bản ghi nhớ.

Thứ hai là thúc đẩy thặng dư thương mại để tăng thêm nguồn ngoại tệ cùng các nguồn khác từ du lịch, kiều hối, thu hút FDI.

Thứ ba là tận dụng việc nâng hạng thị trường chứng khoán và tăng tín nhiệm Quốc gia. Việc nâng hạng thị trường chứng khoán từ cận biên lên mới nổi kỳ vọng năm nay và vài năm tới Việt Nam có thể thu hút thu hút 7-9 tỷ USD dòng vốn gián tiếp.

Thứ tư, Trung tâm Tài chính Quốc tế TP HCM và Đà Nẵng phải sớm vận hành với các cơ chế đặc thù, cho phép tự do chuyển đổi và luân chuyển dòng vốn để kích thích giao dịch tài chính toàn cầu.

Thứ năm, thị trường tài sản số/tài sản mã hóa. Theo TS Cấn Văn Lực, Việt Nam hiện có 17-18 triệu người tham gia đầu tư tài sản số, cần sớm ban hành khung pháp lý để quản lý và thu hút nguồn lực này về phát triển trong nước.

Thứ sáu, kênh thị trường tín chỉ carbon. Chuyên gia cho rằng phải sớm khai thác tiềm năng mua bán tín chỉ carbon quốc tế gắn liền với mục tiêu Net Zero 2050.

Thứ bảy, cuối cùng là các nguồn lực khác, trong đó đặc biệt quan tâm tháo gỡ dự án tồn đọng và tiết kiệm chống lãng phí. Cả nước đang có khoảng 1.500 vướng mắc và TP.HCM con số dự án tồn đọng chiếm khá lớn. Giải quyết dứt điểm 1.500 dự án đang bị vướng mắc pháp lý này để đưa nguồn vốn vào phát triển. Cùng với đó là đẩy nhanh hoàn thuế cho doanh nghiệp để tăng vòng quay tiền. Bên cạnh đó các nguồn lực như hoàn thuế cho doanh nghiệp cũng là luân chuyển dòng vốn trong nền kinh tế...

Kinh tế gia trưởng BIDV theo đó khẳng định: “Có nhiều nguồn lực để huy động vốn hiệu quả chứ không chỉ có kênh ngân hàng”. Riêng với TP HCM, ông nhấn mạnh cần cơ cấu lại đầu tư công theo hướng cân đối hơn. Hiện khoảng 80% vốn đầu tư công của thành phố tập trung vào hạ tầng giao thông. Đây là lĩnh vực quan trọng, nhưng Thành phố cũng cần rà soát, phân bổ nguồn lực hợp lý hơn cho khoa học - công nghệ, y tế, giáo dục và văn hóa.

Đầu tư cho những lĩnh vực này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo và chất lượng tăng trưởng dài hạn.

Lê Mỹ