Xuất khẩu sang Vương Quốc Anh: 2 hiệp định, 1 bài toán lựa chọn
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt với một lựa chọn khó khăn khi xuất khẩu sang thị trường Vương quốc Anh - quốc gia mà Việt Nam cùng ký kết CPTPP và UKVFTA.

Hai hiệp định này cùng tồn tại, nhưng mức thuế, quy tắc xuất xứ và chi phí tuân thủ không giống nhau. Vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp không còn là có ưu đãi hay không, mà là nên dùng ưu đãi nào cho từng mặt hàng?
Lựa chọn ưu đãi từ 2 Hiệp định
Theo hướng dẫn của Bộ Kinh doanh và Thương mại Vương quốc Anh, việc có hai FTA giúp doanh nghiệp lựa chọn dựa trên mức thuế ưu đãi hoặc quy tắc xuất xứ phù hợp hơn. Với phần lớn sản phẩm, thuế suất ưu đãi theo hai FTA có thể cùng ở mức 0%, nhưng vẫn có những dòng thuế mà mức ưu đãi hoặc lộ trình cắt giảm khác nhau.
Nền tảng mà UKVFTA tạo ra là khá vững. Theo Bộ Công Thương, trong 4 năm đầu thực thi FTA này, xuất khẩu của Việt Nam sang Vương quốc Anh tăng trung bình khoảng 10% mỗi năm; còn thương mại hai chiều tăng 9,8% mỗi năm.
Ông Vũ Việt Thành, chuyên viên chính phụ trách thị trường Vương quốc Anh thuộc Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, Bộ Công Thương, cho biết hàng hóa Việt Nam đã chiếm thị phần đáng kể trong nhiều nhóm hàng: khoảng 26,6% thị phần giày dép nhập khẩu vào Vương quốc Anh, 55,7% hạt tiêu và xấp xỉ 90% hạt điều tách vỏ.
Bên cạnh đó, với việc Vương quốc Anh gia nhập CPTPP, Bộ Công Thương cho biết quốc gia này đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, giúp hàng Việt Nam thuận lợi hơn trong việc tránh các rào cản thương mại, đặc biệt là điều tra chống bán phá giá.
Tuy vậy, cơ hội chỉ thành lợi ích khi doanh nghiệp thực sự dùng được ưu đãi từ 2 FTA này. Tỷ lệ hàng hóa được cấp C/O ưu đãi theo UKVFTA tăng từ 17,2% năm 2021 lên 36,2% năm 2024, cao hơn mức khoảng 35% của EVFTA. Trong khi đó, C/O ưu đãi theo CPTPP hiện chỉ chưa tới 10%. Nói cách khác, UKVFTA đã quen thuộc với doanh nghiệp, còn CPTPP vẫn là con đường chưa có nhiều người đi.
Thách thức lớn nằm ở chỗ hai FTA này có thể quy định khác nhau về nguồn nguyên liệu, công đoạn sản xuất và cách xác định xuất xứ. Do đó, một sản phẩm đạt điều kiện theo hiệp định này chưa chắc đã đạt theo hiệp định kia. CPTPP có cơ chế cộng gộp xuất xứ giữa các thành viên, mở ra khả năng tổ chức chuỗi cung ứng trong khu vực, nhưng lợi ích đó chỉ có khi sản phẩm đáp ứng đúng quy tắc riêng của từng mặt hàng và có hồ sơ chứng minh hợp lệ.
Hiệu quả nằm ở từng mã hàng
Để khai thác hiệu quả cả UKVFTA và CPTPP, các doanh nghiệp cần xây dựng quy trình lựa chọn hiệp định theo từng mã hàng, thay vì áp dụng một phương án chung cho toàn bộ danh mục xuất khẩu.
Theo các chuyên gia, cần bắt đầu từ mã HS của sản phẩm và mã hàng tương ứng trong biểu thuế của Vương quốc Anh, sau đó đối chiếu thuế MFN, thuế ưu đãi theo UKVFTA và CPTPP tại thời điểm nhập khẩu, đồng thời kiểm tra lộ trình cắt giảm nếu thuế chưa về 0%.
Tiếp đó, cần rà soát quy tắc xuất xứ cụ thể của từng hiệp định. Với CPTPP, doanh nghiệp nên đánh giá khả năng sử dụng nguyên liệu có xuất xứ từ các nước thành viên để đáp ứng điều kiện xuất xứ. Với UKVFTA, doanh nghiệp cần kiểm tra quy định tương ứng và khả năng đáp ứng các yêu cầu về chứng từ. Doanh nghiệp không nên mặc định rằng hồ sơ hoặc kết quả xác định xuất xứ theo hiệp định này có thể sử dụng cho hiệp định kia.
Bước tiếp theo là tính toán lợi ích ròng. Ngoài mức thuế được giảm, doanh nghiệp cần tính chi phí chứng từ, kiểm soát nguồn nguyên liệu, xác minh xuất xứ và điều chỉnh quy trình nội bộ. Một bảng so sánh cho từng mặt hàng sẽ giúp xác định phương án phù hợp, đồng thời tạo cơ sở để trao đổi với nhà nhập khẩu Vương quốc Anh về giá bán và trách nhiệm cung cấp chứng từ.
Về dài hạn, việc chuẩn hóa dữ liệu nhà cung cấp, quản lý hồ sơ nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc sẽ giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trước các yêu cầu của thị trường. Ông Vũ Việt Thành cho rằng doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Vương quốc Anh đã trưởng thành hơn nhiều so với 4 năm trước, tiếp cận thị trường bài bản hơn và tuân thủ tốt các tiêu chuẩn xanh, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất cũng như truy xuất chuỗi cung ứng.
Ông Trần Quốc Khánh, nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ về hội nhập quốc tế, cũng lưu ý mỗi hiệp định có thế mạnh riêng. UKVFTA có nội dung tốt hơn ở việc mua sắm Chính phủ và phát triển bền vững; còn thương mại dịch vụ trong CPTPP mang lại lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp Vương quốc Anh. Với doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, điều này cho thấy việc chọn hiệp định không chỉ dừng ở thuế quan.
Như vậy, không có một hiệp định tối ưu cho mọi doanh nghiệp hay mọi mặt hàng. Lợi thế sẽ thuộc về những doanh nghiệp có đủ dữ liệu để so sánh thuế suất, kiểm soát được xuất xứ và tính toán được chi phí tuân thủ. Khi đó, UKVFTA và CPTPP không phải là hai lựa chọn loại trừ nhau trong chiến lược thị trường, mà là hai khuôn khổ để doanh nghiệp chủ động khai thác theo từng sản phẩm và điều kiện kinh doanh.
UKVFTA và CPTPP không phải là 2 lựa chọn loại trừ nhau trong chiến lược thị trường, mà là 2 khuôn khổ để doanh nghiệp chủ động khai thác theo từng điều kiện kinh doanh.
Cẩm Anh