Doanh nghiệp Lâm Đồng kỳ vọng đột phá từ thực thi chính sách
Sau khi mở rộng không gian phát triển, Lâm Đồng đứng trước nhiều cơ hội thu hút đầu tư. Tuy nhiên, để doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn, tỉnh cần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng cao hiệu quả thực thi và chịu trách nhiệm đến cùng với từng vướng mắc.

Tuy nhiên, để tiềm năng thực sự chuyển hóa thành dòng vốn đầu tư và năng lực sản xuất thực tế, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải gia tăng niềm tin kinh doanh và tháo gỡ triệt để các “điểm nghẽn” thể chế. Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Hữu Thành, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Lâm Đồng xung quanh vấn đề này.
- Thưa ông, ông đánh giá thế nào về sự chuyển biến của môi trường đầu tư, kinh doanh cũng như mức độ đồng hành của chính quyền tỉnh với cộng đồng doanh nghiệp thời gian qua?
Từ góc độ cộng đồng doanh nghiệp, tôi cho rằng môi trường đầu tư, kinh doanh của Lâm Đồng đã có những chuyển biến tích cực. Điểm sáng lớn nhất chính là tinh thần cầu thị, chủ động lắng nghe, đối thoại và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp từ phía lãnh đạo tỉnh.
Nửa đầu năm 2026, trong bối cảnh địa bàn mở rộng, bài toán quản trị trở nên phức tạp hơn, Lâm Đồng vẫn đạt mức tăng trưởng GRDP 7,90% (riêng quý II tăng 9,22%). Thương mại, dịch vụ, du lịch phục hồi mạnh mẽ. Tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp cải thiện các chỉ số PCI, BPI, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số. Đặc biệt, Kế hoạch 10808/KH-UBND ngày 7/7/2026 đã thể hiện rõ quyết tâm giảm thời gian, chi phí thủ tục, xử lý tình trạng nhũng nhiễu, gắn trách nhiệm người đứng đầu với chất lượng phục vụ doanh nghiệp.
Tuy vậy, nhìn từ thực tiễn, chúng tôi nhận thấy vẫn còn khoảng cách giữa chủ trương của lãnh đạo tỉnh với khâu thực thi tại một số sở, ngành và địa phương. Doanh nghiệp không chỉ cần được đối thoại, mà quan trọng hơn là các vướng mắc sau đó phải có đầu mối xử lý, thời hạn rõ ràng và kết quả cuối cùng. Nếu các vấn đề liên quan đến đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng hay môi trường cứ kéo dài qua nhiều cấp, thời gian chờ thẩm định kéo dài sẽ làm gia tăng chi phí tài chính, tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp. Vì vậy, điều cộng đồng doanh nghiệp mong muốn trong giai đoạn tới là tỉnh chuyển mạnh từ “chính quyền đồng hành” sang “chính quyền kiến tạo và chịu trách nhiệm đến cùng với kết quả xử lý”.
- Vậy đâu là những “điểm nghẽn” lớn nhất mà cộng đồng doanh nghiệp Lâm Đồng đang mong muốn chính quyền tập trung tháo gỡ, thưa ông?
Chúng tôi nhận diện 5 “điểm nghẽn” lớn gồm: đất đai, quy hoạch; thủ tục hành chính; vốn và dòng tiền; chi phí đầu vào; chất lượng nguồn nhân lực. Điều doanh nghiệp cần nhất lúc này không hẳn là thêm các chính sách ưu đãi, mà là tính ổn định, minh bạch và khả năng dự báo của chính sách. Khi một dự án bị ách tắc thủ tục, doanh nghiệp vẫn phải trả lãi vay, chi trả lương và duy trì bộ máy. Tất cả chi phí chờ đợi đó cuối cùng sẽ kết tinh vào giá thành sản phẩm, làm suy giảm sức cạnh tranh.
Bên cạnh đó, sức ép từ chi phí logistics, nguyên liệu, năng lượng và CPI bình quân 8 tháng đầu năm 2026 của tỉnh tăng 4,31% cũng đang bào mòn lợi nhuận doanh nghiệp. Để giải quyết thực chất, tỉnh nên áp dụng nguyên tắc: Mỗi khó khăn chính đáng của doanh nghiệp phải xác định rõ cơ quan chủ trì, người chịu trách nhiệm và thời hạn giải quyết. Hiệp hội sẵn sàng làm đầu mối phân loại vướng mắc, định kỳ cùng UBND tỉnh rà soát xem việc nào đã xong, việc nào tồn đọng và nguyên nhân do đâu.
.jpg)
- Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Lâm Đồng đã có những hành động cụ thể gì nhằm triển khai tinh thần Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị?
Nghị quyết 41-NQ/TW không chỉ đặt mục tiêu phát triển số lượng, mà trọng tâm là nâng cao năng lực quản trị, đạo đức, văn hóa kinh doanh và khả năng hội nhập của lực lượng doanh nhân.
Nhiệm kỳ này, Hiệp hội xác định không thể chỉ là nơi giao lưu thuần túy, mà phải trở thành một tổ chức hỗ trợ thực chất. Chúng tôi đang tập trung vào chuỗi chương trình: Đào tạo CEO, chuyển đổi số, cập nhật pháp luật, kết nối doanh nghiệp với các tổ chức tín dụng” hoặc “hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, xúc tiến thương mại và thúc đẩy chương trình “Ưu tiên dùng hàng hội viên” nhằm tự tạo thị trường cho nhau. Mô hình “Cà phê Doanh nhân” và các đợt tiếp xúc theo khu vực vẫn được duy trì thường xuyên.
Mặt khác, chúng tôi luôn quán triệt tới các hội viên, doanh nghiệp không thể thụ động chờ Nhà nước tháo gỡ. Bản thân doanh nghiệp phải tự nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính, tuân thủ pháp luật và đẩy mạnh liên kết. Nhà nước kiến tạo môi trường; Hiệp hội kết nối, hỗ trợ; còn doanh nghiệp phải là chủ thể tự vươn lên. Đó mới là tinh thần tự lực của doanh nhân thời đại mới.
- Nghị quyết 68-NQ/TW cũng nhấn mạnh việc khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Hiệp hội triển khai chủ trương này như thế nào?
Việc chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, nhưng không thể làm theo kiểu “thay tờ giấy đăng ký kinh doanh”. Phải làm sao để người dân thấy rằng khi lên doanh nghiệp, họ có cơ hội mở rộng thị trường, tiếp cận tín dụng và công nghệ tốt hơn, chứ không phải chỉ gánh thêm thủ tục, chi phí kế toán hay nghĩa vụ thuế.
Chúng tôi đang phối hợp cùng VCCI và các sở, ngành xây dựng mô hình “Một cửa đồng hành cùng hộ kinh doanh lên doanh nghiệp”. Tại đây, hộ kinh doanh sẽ được hướng dẫn toàn diện từ tư vấn pháp lý, kế toán, thuế, quản trị dòng tiền cho đến chuyển đổi số.
Đặc biệt, tôi đề xuất cần có giai đoạn “ươm tạo doanh nghiệp” kéo dài từ 6 - 12 tháng sau chuyển đổi. Thành lập mới chỉ là bước đầu, duy trì hoạt động và phát triển bền vững sau 3 năm, 5 năm mới là thước đo thành công thực sự. Chúng ta cần chất lượng tăng trưởng thực chất chứ không cần con số tăng trưởng trên giấy.
- Nhằm đưa Chỉ số Hiệu quả Kinh tế tư nhân (BPI) trở thành động lực bứt phá cho kinh tế tư nhân, ông có đề xuất gì?
BPI hay PCI không nên chỉ dừng lại ở một bảng xếp hạng công bố thường niên. Giá trị cốt lõi của BPI nằm ở việc phân tích nguyên nhân đằng sau những chỉ số thấp để đưa ra giải pháp khắc phục.
Tôi kiến nghị VCCI và UBND tỉnh tập trung 4 giải pháp gồm: Sử dụng BPI như một công cụ quản trị chuyên sâu: Phân tích chi tiết theo từng lĩnh vực, địa bàn để bắt đúng "bệnh".
Thiết lập cơ chế “Một đầu mối - Một thời hạn - Một kết quả”: Cần một cơ quan chủ trì xử lý đến cùng các dự án liên ngành, tránh tình trạng doanh nghiệp phải "gõ cửa" từng sở.
Công khai kết quả xử lý: Gắn trách nhiệm hoàn thành cải thiện môi trường đầu tư với tiêu chí đánh giá người đứng đầu.
Khảo sát định kỳ 6 tháng: Phối hợp đo lường nhanh để kịp thời nắm bắt vướng mắc phát sinh thay vì đợi báo cáo năm.
Mục tiêu cuối cùng của BPI không phải là điểm số cao, mà là giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí, đẩy nhanh tiến độ dự án, đưa dòng vốn vào sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người dân và củng cố niềm tin đầu tư.
Lâm Đồng mới có không gian phát triển rất rộng lớn. Nhưng tiềm năng chỉ chuyển hóa thành nguồn lực khi doanh nghiệp dám bỏ vốn đầu tư. Và doanh nghiệp chỉ dám đầu tư khi họ có niềm tin: Tin vào chính sách ổn định, tin thủ tục được giải quyết đúng hạn và tin rằng tiếng nói của mình luôn được lắng nghe, xử lý đến cùng. BPI, đến cuối cùng, chính là thước đo niềm tin đó.
- Trân trọng cảm ơn ông!
Nguyễn Minh