Khơi “điểm nghẽn” hạ tầng, đánh thức tiềm năng năng lượng Điện Biên
Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, việc phát triển đồng bộ nguồn và lưới điện tại Điện Biên đang mở ra không gian mới cho thu hút đầu tư, tạo đòn bẩy cho mục tiêu tăng trưởng.
Việc phát triển đồng bộ nguồn và lưới điện tại Điện Biên trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, và yêu cầu cung ứng điện phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Với tinh thần chủ động, trách nhiệm, Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) đã tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương và các chủ đầu tư nhà máy điện, từng bước tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng, phát huy tiềm năng năng lượng, nâng cao chất lượng cung cấp điện, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh khu vực Tây Bắc.

Đòi hỏi từ thực tiễn phát triển
Sở hữu vị trí chiến lược và điều kiện tự nhiên đặc thù, tỉnh Điện Biên có lợi thế lớn trong việc phát triển năng lượng tái tạo, đặc biệt là thủy điện, điện gió và điện mặt trời. Hiện toàn tỉnh có 24 nhà máy thủy điện đang vận hành (tổng công suất 334,4 MW) cùng gần 28,9 MW điện mặt trời mái nhà, nâng tổng công suất nguồn điện hiện hữu lên khoảng 363,3 MW.
Đáng chú ý, theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất nguồn điện phân bổ cho Điện Biên đến năm 2030 lên tới gần 3.000 MW. Đây là nguồn tài nguyên rất lớn để tỉnh thu hút làn sóng đầu tư công nghiệp, dịch vụ và gia tăng nguồn thu ngân sách.
Song hành với tiềm năng nguồn, nhu cầu phụ tải trên địa bàn tăng trưởng nhanh chóng. Dự kiến sản lượng điện thương phẩm năm 2026 đạt trên 388 triệu kWh; công suất cực đại (Pmax) có thể chạm mốc 289 MW vào năm 2030 khi hàng loạt khu, cụm công nghiệp mới đi vào hoạt động.
Tuy nhiên, bài toán lớn của Điện Biên hiện nay là hạ tầng truyền tải chưa theo kịp tốc độ phát triển nguồn điện. Toàn tỉnh vẫn “trắng” lưới điện 220 kV và 500 kV; trục lưới 110 kV hiện hữu phải gánh trọng trách “kép”: vừa cấp điện phụ tải, vừa giải tỏa công suất các nhà máy điện. Tình trạng quá tải cục bộ đã trở thành rào cản hạn chế năng lực thu hút các dự án năng lượng quy mô lớn.
Theo ông Nguyễn Minh Phú - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên, địa phương ghi nhận và đánh giá cao sự đồng hành sát sao của EVN và EVNNPC trong việc củng cố hạ tầng năng lượng thời gian qua.
Trước yêu cầu cấp thiết từ thực tế, ông Nguyễn Minh Phú kiến nghị ngành điện tiếp tục ưu tiên nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ dự án Trạm biến áp 220 kV Điện Biên, đường dây 220 kV Sơn La - Điện Biên và xúc tiến các dự án 500 kV theo quy hoạch. Song song đó, tỉnh đặc biệt lưu tâm đến mục tiêu xã hội: hiện còn trên 3% số hộ dân vùng sâu, biên giới chưa có điện; tỉnh đặt mục tiêu phối hợp đưa tỷ lệ này vượt 99% vào năm 2028.
“Về phía địa phương, Điện Biên cam kết chỉ đạo quyết liệt các sở, ngành tháo gỡ dứt điểm khó khăn về mặt bằng, thủ tục đầu tư, tạo hành lang thông thoáng nhất cho các công trình điện trọng điểm”, lãnh đạo UBND tỉnh khẳng định.

Tăng tốc hạ tầng, giải bài toán truyền tải
Đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương, EVNNPC đã và đang chủ động phân bổ nguồn vốn lớn để nâng cấp lưới điện Tây Bắc. Trong giai đoạn 2021–2025, tổng mức đầu tư cho lưới điện 110 kV trên địa bàn tỉnh đạt gần 437 tỷ đồng, bên cạnh hơn 393 tỷ đồng rót vào hệ thống lưới điện phân phối.
Kế hoạch giai đoạn 2026–2030, Công ty Điện lực Điện Biên (PC Điện Biên) dự kiến triển khai 40 danh mục công trình trung, hạ áp: xây mới và nâng cấp 68 km đường dây trung áp, 170 km đường dây hạ áp, bổ sung 69 trạm biến áp phân phối. Loạt dự án này sẽ trực tiếp xóa bỏ các vùng trũng chất lượng điện năng, sẵn sàng đón đầu các dự án sản xuất lớn.
Về các dự án giải tỏa công suất nguồn, tính đến cuối tháng 10/2026, dự án đường dây 220 kV Sơn La – Điện Biên đã hoàn thành khoảng 78% khối lượng thi công; Trạm biến áp 220 kV Điện Biên đạt khoảng 40%. Việc sớm đưa cặp công trình then chốt này vào vận hành sẽ “mở van” cho dòng công suất năng lượng tái tạo của Điện Biên hòa thẳng vào hệ thống điện quốc gia, chấm dứt tình trạng quá tải kéo dài của đường dây 110 kV.
Bên cạnh giải pháp công trình, câu chuyện hợp tác vận hành giữa ngành điện và các chủ đầu tư thủy điện vừa và nhỏ tại Điện Biên là điểm sáng nổi bật trong bảo đảm an ninh năng lượng miền Bắc, đặc biệt trong các đợt cao điểm nắng nóng.
Thực tế thời gian qua cho thấy, 16 nhà máy thủy điện (tổng công suất 294,9 MW) trên địa bàn tỉnh, điển hình như: Thủy điện Nậm Mức và Long Tạo (88 MW) đã tích cực phối hợp cùng điều độ dịch chuyển khung giờ phát điện linh hoạt. 8 nhà máy khác (39,5 MW) duy trì nghiêm biểu đồ huy động, vừa giữ điện áp ổn định vừa bảo đảm lưu lượng dòng chảy phục vụ thủy lợi.
Động lực then chốt
Dưới góc độ nhà đầu tư, ông Phạm Yên Bình – Phó Giám đốc Nhà máy, Công ty CP Thủy điện Huổi Vang – Thành Bưởi cho biết, sự trao đổi thông tin liên tục, minh bạch giữa doanh nghiệp với các cấp điều độ giúp nhà máy chủ động tính toán lượng nước về, tối ưu hóa công suất phát vào các giờ cao điểm của hệ thống, mang lại lợi ích kinh tế cho cả doanh nghiệp lẫn lưới điện chung.
Đồng quan điểm, ông Hà Đức Hiếu – Phó Giám đốc Công ty CP Thủy điện Nậm Mức và Thủy điện Long Tạo Điện Biên nhấn mạnh, cơ chế phối hợp linh hoạt đã gỡ khó cho doanh nghiệp trước diễn biến thủy văn phức tạp, biến sự bị động nguồn nước thành thế chủ động đóng góp nguồn điện nền tin cậy.

Còn theo ông Nguyễn Đặng Tuấn – Ủy viên BCH Hiệp hội Các nhà đầu tư thủy điện nhỏ Việt Nam, Chủ tịch Công ty CP Đầu tư Tài nguyên và Năng lượng Điện Biên, việc EVNNPC lắng nghe, thấu hiểu khó khăn của doanh nghiệp và kịp thời phối hợp giải tỏa áp lực vận hành là yếu tố sống còn để doanh nghiệp yên tâm tái đầu tư, đồng hành cùng mục tiêu phát triển kinh tế địa phương.
Chia sẻ về định hướng dài hạn, ông Lương Minh Thanh – Phó Tổng Giám đốc EVNNPC cho biết, EVNNPC xác định Điện Biên là địa bàn trọng điểm phát triển năng lượng xanh của miền Bắc. Thời gian tới, Tổng công ty sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với tỉnh rà soát quy hoạch, ưu tiên vốn hiện đại hóa lưới 110 kV và hạ áp; đồng thời duy trì đối thoại mật thiết với cộng đồng doanh nghiệp để xây dựng phương thức huy động tối ưu nhất.
Mối quan hệ đồng hành, sẻ chia trách nhiệm giữa cơ quan quản lý Nhà nước, đơn vị cung ứng điện lực và cộng đồng doanh nghiệp tư nhân tại Điện Biên chính là mô hình tiêu biểu để hiện thực hóa Nghị quyết 70-NQ/TW. Khi những “điểm nghẽn” hạ tầng được khơi thông, nguồn năng lượng xanh dồi dào của mảnh đất lịch sử Điện Biên sẽ thực sự trở thành động lực then chốt, thắp sáng kỳ vọng tăng trưởng kinh tế bứt phá cho toàn vùng Tây Bắc.
Hương Ly