Phát triển Lâm Đồng nhìn từ góc độ “vốn thể chế” và chỉ số BPI
Trong không gian phát triển mới sau sáp nhập, tỉnh Lâm Đồng xác định bài toán nâng cao Chỉ số Hiệu quả kinh tế tư nhân (BPI) không nằm ở các hỗ trợ dàn trải, mà bắt đầu từ việc tối ưu hóa “vốn thể chế”.

Minh bạch hóa thông tin đất đai, chuẩn hóa hạ tầng phụ trợ và chuyển mạnh từ liên kết bán nguyên liệu sang tích hợp đa giá trị theo chuỗi chế biến sâu đang là những giải pháp then chốt để nông nghiệp công nghệ cao Lâm Đồng bứt phá năng lực cạnh tranh.
Giải phóng nguồn lực đất đai và hạ tầng phụ trợ
Đối với các dự án nông nghiệp quy mô lớn, đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là yếu tố cốt lõi của môi trường đầu tư. Doanh nghiệp cần thông tin minh bạch về vị trí khu đất, quy hoạch, pháp lý, hình thức tiếp cận cũng như thời gian thực hiện thủ tục. Việc sáp nhập ba tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Thuận đã mở rộng không gian phát triển, tạo ra tiềm năng toàn diện về đất đai cho phát triển nông nghiệp hàng hóa, công nghệ cao, lâm nghiệp và công nghiệp chế biến. Tỉnh đã hoàn thành Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 2786/QĐ-UBND ngày 06/6/2026, tạo cơ sở quan trọng để tổ chức lại không gian phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của minh bạch hóa và phân cấp quản lý đất đai trong giai đoạn mới, ông Phan Nguyễn Hoàng Tân - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng cho biết: “Sở đang tập trung hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống”, tăng cường công khai, chia sẻ thông tin quy hoạch; đồng thời phối hợp rà soát quy hoạch, chỉ tiêu sử dụng đất, nguồn gốc và tình trạng pháp lý của các khu đất. Chúng tôi định nghĩa quỹ đất sạch không chỉ là đất đã GPMB, mà phải đồng bộ cả về quy hoạch, pháp lý và khả năng triển khai thực tế. Quan điểm chỉ đạo là không để thủ tục đất đai trở thành điểm nghẽn kéo dài của dự án, nhưng đồng thời phải bảo đảm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Sở đã tham mưu phân cấp, ủy quyền trong lĩnh vực đất đai, góp phần rút ngắn quy trình, nâng cao trách nhiệm của chính quyền cấp xã và tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp”.
Bên cạnh mặt bằng sạch, bài toán xây dựng công trình phụ trợ trên đất nông nghiệp phục vụ sơ chế, bảo quản, kho vật tư và máy móc cũng tìm thấy lời giải pháp lý rõ ràng. Theo khoản 3 Điều 178 Luật Đất đai năm 2024, người sử dụng đất nông nghiệp được sử dụng một diện tích đất theo quy định của UBND cấp tỉnh để xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất. Cụ thể hóa quy định này, UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định số 54/2026/QĐ-UBND ngày 10/8/2026. Trong đó, Điều 10 quy định chi tiết điều kiện và Điều 11 quy định về diện tích, vị trí đất sử dụng để xây dựng công trình trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Cùng với Nghị định số 102/2024/NĐ-CP, hành lang pháp lý hiện nay đã tương đối rõ ràng. Sở Nông nghiệp và Môi trường đang tập trung hướng dẫn, tổ chức thực hiện thống nhất, giúp doanh nghiệp chủ động quy hoạch không gian phụ trợ, giảm thiểu tối đa tổn thất sau thu hoạch và tối ưu hóa chi phí vận hành.
Đột phá chuỗi giá trị chế biến sâu và nông nghiệp tuần hoàn
Lâm Đồng hiện sở hữu tiềm năng nông nghiệp hàng đầu cả nước với tổng diện tích gieo trồng đạt khoảng 1.048.663 ha, trong đó khoảng 110.700 ha sản xuất theo hướng nông nghiệp công nghệ cao và khoảng 1.400 ha ứng dụng nông nghiệp thông minh. Toàn tỉnh đã hình thành 428 chuỗi liên kết với gần 47.590 hộ tham gia, diện tích liên kết khoảng 85.000 ha. Tuy nhiên, khâu chế biến sâu vẫn là điểm nghẽn lớn khi năm 2025, tỷ lệ sản lượng rau, trái cây qua chế biến mới đạt khoảng 24,4%. Nhu cầu đầu tư kho lạnh, phân loại, đóng gói, sấy, cấp đông, chiết xuất và logistics còn dư địa rất rộng mở.
Về định hướng tháo gỡ điểm nghẽn này, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Phan Nguyễn Hoàng Tân chia sẻ: “Sở chuyển hướng mạnh mẽ sang thu hút đầu tư theo toàn chuỗi giá trị, lấy doanh nghiệp làm hạt nhân gắn với vùng nguyên liệu tập trung. Tỉnh đã cấp 1.609 mã số vùng trồng với diện tích hơn 54.298 ha và 547 mã số cơ sở đóng gói, tạo nền tảng vững chắc cho các ngành hàng chủ lực như cà phê, rau hoa, sầu riêng, hồ tiêu, thanh long, dược liệu, chăn nuôi và thủy sản. Nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước sẽ tập trung vào các khâu nền tảng như nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, chứng nhận chất lượng, xây dựng nhãn hiệu và truy xuất nguồn gốc, thay vì hỗ trợ dàn trải”.
Trước áp lực biến đổi khí hậu, mô hình nông nghiệp tuần hoàn được thúc đẩy theo nguyên tắc “đất khỏe – rừng được bảo vệ – phụ phẩm được tái sử dụng – nước được tiết kiệm – phát thải được giảm”. Trong 9 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã chuyển đổi, trồng mới hơn 8.145 ha (trong đó hơn 5.082 ha trên đất lúa). Lĩnh vực chăn nuôi ghi nhận hơn 1.410 trang trại đang hoạt động, nhiều cơ sở đã đầu tư hệ thống xử lý chất thải hiện đại để tái sử dụng làm phân bón hữu cơ. Đối với tài nguyên rừng, 9 tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh đã trồng hơn 2.065 ha rừng tập trung; đồng thời gắn quản lý rừng bền vững với phát triển thị trường carbon và giảm phát thải khí nhà kính.

Nói về tầm nhìn chiến lược nhằm nâng cao Chỉ số BPI cho khu vực kinh tế tư nhân trong nông nghiệp, ông Phan Nguyễn Hoàng Tân nhấn mạnh 5 nhóm giải pháp đột phá mà Sở đang tập trung thực hiện:
Thứ nhất, lấy doanh nghiệp làm đầu tàu, Hợp tác xã và trang trại làm cầu nối, nông dân làm chủ thể nhằm cắt giảm chi phí giao dịch trong chuỗi.
Thứ hai, tổ chức lại sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu tập trung đạt chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ; nâng chất 428 chuỗi liên kết hiện có, đồng thời mở rộng kết nối đối với các trang trại (hiện mới có 108/1.410 trang trại tham gia liên kết) và 894 sản phẩm OCOP còn hạn chứng nhận.
Thứ ba, lấy thị trường và tiêu chuẩn thị trường làm đầu vào của sản xuất, chuyển dịch tư duy từ “có gì bán nấy” sang “thị trường cần gì thì tổ chức sản xuất cái đó”.
Thứ tư, chuyển từ liên kết bán nguyên liệu đơn thuần sang liên kết toàn chuỗi để nâng cao giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm.
Thứ năm, số hóa dữ liệu vùng nguyên liệu, Hợp tác xã, doanh nghiệp và cải thiện môi trường kinh doanh nhằm giảm thiểu chi phí tuân thủ cũng như rủi ro đầu tư cho doanh nghiệp.
Việc nâng cao Chỉ số BPI trong nông nghiệp không dừng lại ở những con số chỉ tiêu, mà cốt lõi là kiến tạo một hệ sinh thái kinh doanh minh bạch, nhất quán và dễ dự báo. Khi doanh nghiệp yên tâm đầu tư, nông dân có đầu ra ổn định và tài nguyên sinh thái được bảo vệ, nông nghiệp Lâm Đồng sẽ chuyển hóa trọn vẹn lợi thế công nghệ cao thành năng lực cạnh tranh bền vững trong dài hạn.
Nguyễn Minh