Việc tiếp tục duy trì yêu cầu cấp giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ thuốc lá đang đặt ra yêu cầu bảo đảm tính nhất quán trong chính sách cải cách thủ tục hành chính.
Ngày 21/10, tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, vấn đề duy trì hay bãi bỏ giấy phép kinh doanh thuốc lá là một trong những nội dung nhận được sự quan tâm của các đại biểu Quốc hội.
Nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, thay vì tái lập các thủ tục đã được cắt giảm, cần lựa chọn phương thức quản lý phù hợp, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh nhưng vẫn bảo đảm mục tiêu phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Thảo luận tại Tổ 13, đại biểu Phạm Ngọc Lâm (Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai) cho rằng, dù thuốc lá là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, việc bắt buộc tất cả hoạt động kinh doanh phải có giấy phép có thể tạo thêm rào cản và làm gia tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Theo đại biểu, các hoạt động phân phối, bán buôn, bán lẻ thuốc lá có thể được quản lý thông qua điều kiện kinh doanh, quyền và nghĩa vụ của thương nhân, kết hợp với tăng cường kiểm tra, giám sát và hậu kiểm, thay vì bắt buộc phải có giấy phép.
Đáng chú ý, đại biểu Phạm Ngọc Lâm cảnh báo nguy cơ phát sinh trở lại thủ tục hành chính liên quan đến cấp mới, sửa đổi, bổ sung và cấp lại giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ thuốc lá đã được quy định không thực hiện theo Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP của Chính phủ.

Trước đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương. Tiếp đó, Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP quy định không thực hiện một số yêu cầu cấp phép trong lĩnh vực kinh doanh thuốc lá từ ngày 1/7/2026 đến hết ngày 28/2/2027.
Tuy nhiên, nếu các quy định liên quan trong Luật hiện hành không được sửa đổi tương ứng, cơ chế cấp phép có thể được áp dụng trở lại khi thời hạn thực hiện nghị quyết kết thúc. Đây là vấn đề cần được giải quyết trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật nhằm tránh những thay đổi gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh.
Cùng đề cập đến vấn đề này, đại biểu Lê Hoàng Anh (Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai) lưu ý, sau ngày 28/2/2027, các điểm bán đang hoạt động theo cơ chế không thực hiện giấy phép có thể gặp vướng mắc nếu quy định cấp phép được áp dụng trở lại mà thiếu điều khoản chuyển tiếp.
Những ý kiến này cho thấy, dù lựa chọn phương án duy trì hay bãi bỏ giấy phép, yêu cầu quan trọng là chính sách phải có tính ổn định, nhất quán và không tạo ra những xáo trộn không cần thiết đối với hoạt động kinh doanh hợp pháp.
Không chỉ là vấn đề thủ tục, việc duy trì giấy phép còn đặt ra bài toán về chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và nguồn lực quản lý nhà nước.
Theo đại biểu Phạm Ngọc Lâm, việc cấp giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ thuốc lá hiện nay chủ yếu dựa trên xem xét hồ sơ, giấy tờ, chưa trực tiếp quyết định số lượng thuốc lá được đưa ra thị trường cũng như mức độ tiếp cận của người tiêu dùng.
Đại biểu dẫn một ước tính về chi phí thực hiện giấy phép khoảng 6 triệu đồng, với thời hạn 5 năm, tương đương 1,2 triệu đồng mỗi năm cho một cơ sở. Khi áp dụng trên quy mô mạng lưới kinh doanh rộng lớn, chi phí tuân thủ có thể tạo ra gánh nặng đáng kể cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh.
Ngoài chi phí trực tiếp, doanh nghiệp còn phải dành thời gian chuẩn bị hồ sơ, thực hiện thủ tục, theo dõi thời hạn giấy phép và xử lý các yêu cầu điều chỉnh trong quá trình hoạt động. Về phía cơ quan quản lý, việc tiếp nhận, thẩm định và giải quyết hồ sơ cũng cần một nguồn lực hành chính tương ứng.
Ở góc độ kinh tế, chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng, nguyên Giám đốc R&D Viện Kinh tế & Quản lý TP.HCM, cho rằng khi thiết kế chính sách cần lấy sức khỏe cộng đồng làm mục tiêu, hiệu quả thực thi làm thước đo và tính tương xứng làm nguyên tắc.

Theo ông Nguyễn Hoàng Dũng, một quy định dù có mục tiêu đúng vẫn có thể không đạt hiệu quả mong muốn nếu quá phức tạp, khó giám sát hoặc tạo chi phí tuân thủ vượt quá khả năng đáp ứng của các hộ kinh doanh nhỏ.
Ông cũng lưu ý phải bảo đảm tính thống nhất và ổn định của chính sách, tránh tình trạng vừa cắt giảm thủ tục ở nơi này lại phát sinh thêm yêu cầu ở nơi khác. Trong bối cảnh hộ kinh doanh phải thích ứng với nhiều thay đổi về thuế, hóa đơn điện tử và kế toán, môi trường pháp lý cần rõ ràng, dễ dự đoán để người dân yên tâm hoạt động.
Nếu một hoạt động có thể được giám sát hiệu quả bằng dữ liệu, điều kiện kinh doanh và cơ chế hậu kiểm, việc tiếp tục duy trì thủ tục cấp phép cần được xem xét trên cơ sở lợi ích quản lý thực chất, thay vì chỉ dựa vào tính quen thuộc của phương thức quản lý hiện hành.
Một trong những băn khoăn đặt ra là liệu bãi bỏ giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ thuốc lá có ảnh hưởng đến mục tiêu hạn chế nguồn cung và giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá hay không.
Về vấn đề này, đại biểu Đoàn Thị Thanh Mai (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) cho rằng, giấy phép phân phối, bán buôn, bán lẻ không phải công cụ trực tiếp và duy nhất để hạn chế khả năng tiếp cận thuốc lá.
Theo đại biểu, mục tiêu phòng, chống tác hại của thuốc lá cần được thực hiện đồng bộ thông qua kiểm soát sản xuất, nhập khẩu, chính sách thuế, kiểm soát địa điểm bán, đối tượng mua và hành vi bán hàng.

Luật Đầu tư năm 2025 cũng cho phép áp dụng nhiều hình thức quản lý đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Việc tuân thủ điều kiện kinh doanh không nhất thiết phải được chứng minh bằng một giấy phép riêng trong mọi trường hợp.
Như vậy, đề xuất bãi bỏ giấy phép ở khâu phân phối, bán buôn, bán lẻ không đồng nghĩa với việc đưa thuốc lá ra khỏi danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Các doanh nghiệp và hộ kinh doanh vẫn phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý liên quan đến nguồn gốc hàng hóa, địa điểm bán, đối tượng mua, hành vi quảng cáo, khuyến mại và các quy định chuyên ngành khác.
Đại biểu Phạm Ngọc Lâm đề nghị chuyển trọng tâm quản lý từ thủ tục cấp phép sang kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong thực tế. Theo đó, cơ quan chức năng có thể khai thác dữ liệu đăng ký kinh doanh, hóa đơn điện tử và thông tin truy xuất nguồn gốc hàng hóa để giám sát hoạt động của thương nhân.
Việc cung cấp thông tin về địa điểm kinh doanh cũng cần tận dụng dữ liệu sẵn có, thực hiện theo phương thức điện tử đơn giản, tránh phát sinh thêm thủ tục hành chính mới.
Đặc biệt, nguồn lực kiểm tra cần ưu tiên phát hiện, xử lý thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả, hoạt động kinh doanh trái phép và hành vi bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi.
Theo cách tiếp cận này, Nhà nước không giảm trách nhiệm quản lý mà thay đổi trọng tâm từ kiểm tra hồ sơ trước khi kinh doanh sang giám sát sự tuân thủ trong suốt quá trình hoạt động.
Bên cạnh việc bãi bỏ giấy phép, dự thảo Luật cũng đề xuất cấm trưng bày thuốc lá tại các cơ sở bán buôn, bán lẻ. Đây là giải pháp hướng đến hạn chế quảng cáo gián tiếp và giảm sức hấp dẫn của thuốc lá, đặc biệt đối với trẻ em, thanh thiếu niên.
Trao đổi về đề xuất này, ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng, cho rằng mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng cần được đặt lên hàng đầu, nhưng chính sách phải có lộ trình phù hợp và giải pháp hỗ trợ người kinh doanh thích ứng.
Theo đại biểu, cần xác định thời gian chuyển tiếp trên cơ sở đánh giá tác động, bảo đảm các cơ sở kinh doanh có đủ điều kiện sắp xếp lại quầy hàng, thay đổi vật dụng trưng bày và chuẩn bị thực hiện quy định mới.
Theo đó, một lộ trình 18-24 tháng có thể được cân nhắc cùng với việc thí điểm tại một số địa phương trước khi mở rộng toàn quốc nhằm giúp cơ quan quản lý hoàn thiện cẩm nang hướng dẫn và hỗ trợ tiểu thương chuyển đổi cách vận hành.
Tương tự, chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng cho rằng, cần phân biệt giữa việc trưng bày mang tính quảng bá, kích thích tiêu dùng với cung cấp thông tin thương mại tối thiểu cho người mua trưởng thành.
Có thể thấy, yêu cầu hoàn thiện các quy định mới về quản lý thị trường thuốc lá không chỉ nằm ở việc tăng cường biện pháp kiểm soát, mà còn phải bảo đảm khả năng thực thi và tính thống nhất với chủ trương cải cách thủ tục hành chính, hướng đến tập trung nguồn lực cho những biện pháp trực tiếp bảo vệ sức khỏe cộng đồng.