Chính sách thương mại của Mỹ đang chuyển sang trạng thái linh hoạt hơn, với mức thuế thấp hơn nhưng vẫn đủ để duy trì công cụ điều tiết thương mại và bảo vệ sản xuất trong nước.
Chính quyền Mỹ đã thực hiện chính sách thuế quan mới trên toàn cầu với hàng hoá nhập khẩu ở mức 10% trong vòng 150 ngày. Mức thuế này thay thế cho chính sách thuế quan đối ứng được Tổng thống Mỹ thực hiện trước đó.

Là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, diễn biến mới trong chính sách thuế của Mỹ được nhận định có những tác động mang tính hai mặt với hàng hoá Việt Nam. Một mặt giảm áp lực chi phí của các doanh nghiệp xuất khẩu song tính chất ngắn hạn của chính sách thuế tạo áp lực lớn trước môi trường kinh doanh tiềm ẩn bất định.
Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, PGS TS Nguyễn Thường Lạng - Giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế quốc dân) nhấn mạnh: Mức thuế mới đã được áp dụng nhưng chính sách thương mại của thị trường Mỹ vẫn khó đoán định. Doanh nghiệp vì thế không nên chủ quan, cần tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh nội tại, tăng “sức đề kháng” và quản trị rủi ro để duy trì tăng trưởng ổn định và bền vững trong bất định.
- Thưa ông, mức thuế nhập khẩu từ 20% đã giảm xuống 10% rõ ràng “dễ thở” hơn cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Mỹ, song ở khía cạnh khác, mức thuế chung cho các quốc gia tạo ra cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn?
Khác với các biện pháp phòng vệ thương mại hay hàng rào kỹ thuật…, chính sách thuế được Tổng thống Mỹ sử dụng như công cụ tường minh, dễ thực hiện. Từ mức thuế 20% thực hiện trước đó, nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ được điều chỉnh giảm thuế về mức 10% là tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, khi mức thuế này được áp dụng trên toàn cầu, tạo sân chơi chung càng khiến cho cạnh tranh giữa các quốc gia, các nền kinh tế trở nên gay gắt hơn, đặc biệt cạnh tranh về giá, chất lượng, tiến độ giao hàng.
Việt Nam tuy đang được đánh giá là điểm đến đầu tư, là một trong những trung tâm sản xuất mới nhưng trong cạnh tranh toàn cầu, hàng hoá Việt Nam cần tiếp tục cải thiện về giá thành, nâng cao tỉ lệ nội địa hoá và thích ứng nhanh với những yêu cầu, tiêu chuẩn mới của khách hàng. Doanh nghiệp cần tận dụng thời gian 150 ngày để tiếp tục nâng cao năng lực nội tại, đẩy mạnh số hoá, xanh hoá, nâng cao chất lượng, cải thiện năng suất… vừa chủ động thích ứng với những thay đổi nhanh vừa chuyển đổi mô hình từ gia công sang thiết kế sản xuất, nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng, tận dụng tốt hơn cơ hội từ thương mại toàn cầu và chính sách thuế quan.

- Chính quyền Mỹ vẫn đang nhất quán chính sách: Nước Mỹ là trên hết, chủ trương bảo hộ sản xuất trong nước. Ngoài chính sách thuế, Mỹ đang đẩy mạnh các biện pháp phòng vệ thương mại, điều tra chống bán phá giá, nhất là với hàng hoá nhập khẩu có kim ngạch lớn, thưa ông?
Mức thuế này tuy đã được áp dụng nhưng chính sách thương mại của thị trường Mỹ vẫn khó đoán định. Đặc biệt, với thị trường xuất khẩu hàng hoá lớn vào Mỹ như Việt Nam, việc điều chỉnh chính sách thương mại của Mỹ có thể khiến doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với những rủi ro khác ngoài chính sách thuế như các biện pháp phòng vệ thương mại, điều tra chống bán phá giá nếu lượng hàng hoá nhập khẩu từ Việt Nam tăng quá nhanh và bị coi là đe doạ cho sản xuất nội địa nước Mỹ. Đây là thời điểm các doanh nghiệp cần kết nối chặt chẽ với khách hàng, đồng thời tính toán các bài toán lâu dài, bao quát, trong đó nâng cao khả năng dự đoán rủi ro càng ngày càng lớn, bất định diễn ra ngày càng nhanh. Bối cảnh mới đòi hỏi chi phí cho dự phòng và quản trị rủi ro lớn hơn.
Cùng với đó, tiếp tục tối ưu hoá chuỗi cung ứng, tiết giảm chi phí liên quan đến hành chính, năng lượng, logistics… Liên kết doanh nghiệp cần được chặt chẽ hơn, doanh nghiệp lớn trụ vững cần kết nối với doanh nghiệp quy mô nhỏ tạo thành chuỗi trong bối cảnh bất định.
- Những thay đổi nhanh trong chính sách thương mại diễn ra liên tục trong thời gian gần đây, ông nhận định thế nào về khả năng ứng phó và thích nghi của các doanh nghiệp Việt Nam?
Những thay đổi trong chính sách thương mại, không chỉ từ thị trường Mỹ mà ở các nền kinh tế lớn đã khiến các doanh nghiệp Việt Nam định hình trong tư duy về tính bất định của môi trường đầu tư kinh doanh. Xu hướng bảo hộ thương mại được dự báo vẫn tiếp tục, chính sách thuế không áp dụng bằng cách này có thể được thay thế bằng các công cụ pháp lý khác. Doanh nghiệp ở mức độ nào đó đã hình thành phản xạ nhanh và linh hoạt thích ứng với thị trường, chú trọng khả năng chống chịu với bất định khá cao, bước xây dựng một số chuỗi cung ứng khá chắc chắn.
Ở cấp độ vĩ mô, Việt Nam tăng cường đẩy mạnh hợp tác kinh tế đầu tư với nhiều quốc gia, trong đó tại thị trường Mỹ, Việt Nam thể hiện thiện chí hợp tác để cùng đi trên đường dài hạn. Những thoả thuận hợp tác kinh doanh giữa các doanh nghiệp 2 nước trong những hoạt động cấp cao gần đây cũng khẳng định Việt Nam là thị trường tiềm năng của Mỹ trong xuất khẩu các mặt hàng công nghệ cao, thiết bị máy móc có giá trị.
Cùng với đó, Việt Nam tiếp tục chủ trương đa dạng thị trường xuất khẩu, tận dụng tốt các FTA và nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hoá xuất khẩu, qua đó tạo lợi thế bền vững hơn cho doanh nghiệp, thay vì chỉ phụ thuộc vào thị trường lớn như Mỹ. Tôi cho rằng, Chính phủ và các cơ quan quản lý cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ gián tiếp cho doanh nghiệp thông qua xúc tiến thương mại, thông tin thị trường, tiết giảm chi phí hành chính không cần thiết.
- Trân trọng cảm ơn ông!