Đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công cho khoa học công nghệ không chỉ là bài toán tiến độ, mà còn cần khơi thông “cầu nối” chuyển giao công nghệ để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất.
Thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công cho khoa học công nghệ
Trong bối cảnh Chính phủ đang quyết liệt thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bài toán lớn không chỉ nằm ở tiến độ giải ngân mà còn ở hiệu quả sử dụng nguồn lực để hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất, có khả năng tạo ra công nghệ lõi và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đây cũng là nội dung được đặt ra tại Hội nghị tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về tài chính và đẩy mạnh giải ngân vốn năm 2026 trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì ngày 19/5.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến nay tỉ lệ giải ngân vốn đầu tư công trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mới đạt khoảng 14,8%, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân chung cả nước là gần 21,2% trong 5 tháng đầu năm 2026.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, con số này cho thấy tiến độ giải ngân của lĩnh vực khoa học công nghệ đang chậm hơn nhiều so với mặt bằng chung, đòi hỏi phải có giải pháp mạnh và đồng bộ hơn trong thời gian tới.
Tại hội nghị, Phó Thủ tướng đề nghị các đại biểu phát huy tinh thần thẳng thắn, trách nhiệm để đánh giá toàn diện, thực chất những khó khăn, vướng mắc; làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan cũng như xác định cụ thể các điểm nghẽn trong cơ chế, chính sách và khâu tổ chức thực hiện tại địa phương. Mục tiêu được đặt ra là trong tháng 6/2026 phải cơ bản giải quyết dứt điểm các khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công.
Theo Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân, trong năm 2025 và nửa đầu năm 2026, Bộ KH&CN đã tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý để thể chế hóa các chủ trương, chính sách tại Nghị quyết 57-NQ/TW. Đến nay, khung pháp lý cơ bản đã hình thành cho các lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành tương đối đồng bộ, tạo hành lang pháp lý cho việc đăng ký, phân bổ và giải ngân vốn trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, Bộ trưởng Vũ Hải Quân cũng nêu một số khó khăn liên quan đến cơ chế lập dự toán, phân bổ và quản lý kinh phí khoa học & công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo đó, quy định xác định mức kinh phí trung bình 3 năm theo từng loại hình nhiệm vụ để làm cơ sở lập dự toán sẽ bất cập đối với các nhiệm vụ quy mô lớn, nhiệm vụ công nghệ chiến lược, nhiệm vụ đặc biệt hoặc các loại hình nhiệm vụ mới chưa có dữ liệu lịch sử; đồng thời chưa có hướng dẫn cụ thể về hệ số điều chỉnh do biến động chính sách, lạm phát hoặc giảm phát…
Gỡ “điểm nghẽn” chuyển giao công nghệ
Các chuyên gia bày tỏ, bên cạnh những chuyển động tích cực về thể chế và đầu tư công, một thực tế vẫn tồn tại hiện nay là hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam vẫn đang tồn tại “điểm nghẽn” lớn ở khâu chuyển giao công nghệ.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hệ sinh thái startup với hàng nghìn doanh nghiệp khởi nghiệp ra đời, nhiều quỹ đầu tư xuất hiện và tinh thần đổi mới sáng tạo lan tỏa rộng trong cộng đồng doanh nghiệp trẻ. Song phần lớn startup vẫn thiếu nền tảng công nghệ lõi xuất phát từ các viện nghiên cứu và trường đại học. Trong khi đó, không ít kết quả nghiên cứu có giá trị vẫn chưa thể bước ra thị trường, chưa chuyển hóa thành sản phẩm thương mại hay năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nguyên nhân không nằm ở việc thiếu tri thức hay thiếu nhà khoa học, mà xuất phát từ sự đứt gãy của khâu chuyển giao công nghệ, mắt xích kết nối giữa nghiên cứu, doanh nghiệp và thị trường. Điều này khiến nhiều tài sản trí tuệ chưa thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế thực tiễn, trong khi hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo vẫn thiếu một “bộ truyền động” đủ chuyên nghiệp để thúc đẩy thương mại hóa công nghệ.
TS. Phạm Thị Hồng Phượng, Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ chia sẻ, tại nhiều quốc gia phát triển, các Văn phòng chuyển giao công nghệ (TTO - Technology Transfer Office) đóng vai trò trung tâm trong thương mại hóa nghiên cứu, tạo ra hàng loạt doanh nghiệp spin-off và biến các trường đại học trở thành cái nôi của đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, tại Việt Nam, mô hình này vẫn đối mặt với nhiều rào cản về cơ chế, nhân lực, định giá tài sản trí tuệ và kết nối thị trường.
Từ thực tiễn đó, TS. Phạm Thị Hồng Phượng cho rằng để hiện thực hóa hoạt động chuyển giao công nghệ cần nhanh chóng triển khai những giải pháp mang tính nền tảng, nhằm tháo gỡ các nút thắt thể chế, khơi thông dòng chảy tri thức và xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp dựa trên công nghệ thực chất.
Thứ nhất, cần thí điểm mô hình “vòng ngoài” cho TTO trong lòng đại học, tách bạch chức năng quản lý nhà nước về khoa học với hoạt động khai thác thương mại. Bà đề xuất cho phép từ 3-5 trường đại học trọng điểm tại Hà Nội thành lập doanh nghiệp chuyển giao công nghệ hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, qua đó tạo sự linh hoạt trong ký kết hợp đồng li-xăng (cho phép một bên được quyền sử dụng tài sản trí tuệ của bên khác trong một phạm vi, thời gian và điều kiện nhất định, đổi lại thường phải trả phí hoặc chia sẻ lợi ích kinh tế) và góp vốn bằng tài sản trí tuệ, tránh bị bó buộc bởi thủ tục hành chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
Thứ hai, yếu tố nhân lực là điều kiện sống còn để xây dựng hệ sinh thái chuyển giao công nghệ chuyên nghiệp. Theo đó, Bộ KH&CN cần chủ trì xây dựng chương trình đào tạo “Kỹ sư định giá và Môi giới công nghệ”, ban hành bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp và cấp chứng chỉ quốc gia cho đội ngũ “Tech-Brokers”. Đây sẽ là lực lượng trung gian am hiểu cả kỹ thuật, luật sở hữu trí tuệ và kỹ năng đàm phán thương mại, đóng vai trò “thông dịch viên” giữa nhà khoa học và doanh nghiệp.
Thứ ba, là xây dựng cơ chế “sandbox” cho phép định giá công nghệ dựa trên giá trị kỳ vọng tương lai thay vì chỉ căn cứ vào chi phí đầu tư ban đầu. Điều này không chỉ giúp phản ánh đúng giá trị tiềm năng của công nghệ mà còn giảm bớt tâm lý e ngại “thất thoát tài sản công” trong quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Thứ tư, để khắc phục tình trạng đứt gãy thông tin giữa viện, trường và doanh nghiệp, TS. Phạm Thị Hồng Phượng cũng đề xuất xây dựng “Sàn giao dịch công nghệ số” với nền tảng dữ liệu dùng chung, số hóa toàn bộ danh mục bằng sáng chế và giải pháp hữu ích có chỉ số sẵn sàng công nghệ từ mức 5 trở lên. Nền tảng này sẽ giúp cộng đồng startup và doanh nghiệp dễ dàng tra cứu, đặt hàng và thực hiện giao dịch chuyển giao công nghệ trực tuyến minh bạch hơn.
Ngoài ra, chuyên gia cũng kiến nghị thành lập Quỹ đối ứng rủi ro Chuyển giao công nghệ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua “thung lũng chết” của công nghệ - giai đoạn sản xuất thử nghiệm có rủi ro cao nhưng quyết định khả năng thương mại hóa sản phẩm. Theo đề xuất, Nhà nước sẽ hỗ trợ từ 30-50% kinh phí cho các dự án chuyển giao công nghệ từ viện, trường sang doanh nghiệp để triển khai sản xuất thử nghiệm, qua đó chia sẻ rủi ro và tạo động lực để doanh nghiệp mạnh dạn sử dụng công nghệ trong nước thay vì phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu.
“Chuyển giao công nghệ không phải là một giao dịch mua bán đơn thuần, mà là quá trình chuyển hóa tri thức thành sự thịnh vượng. Nếu không sớm hoàn thiện mảnh ghép TTO, các nghiên cứu sẽ mãi nằm trong ngăn kéo và hệ sinh thái khởi nghiệp sẽ tiếp tục thiếu chiều sâu công nghệ lõi”, TS. Phạm Thị Hồng Phượng nhấn mạnh.
Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc tháo gỡ điểm nghẽn chuyển giao công nghệ sẽ là điều kiện tiên quyết để nguồn lực đầu tư công thực sự phát huy hiệu quả, tạo ra doanh nghiệp công nghệ mạnh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.