Chống hàng giả

Thịt trâu Ấn Độ, “đặc sản Tây Bắc” và cái giá của sự nhập nhèm

Nguyễn Giang 26/08/2026 00:30

Đằng sau câu chuyện thịt trâu Ấn Độ được quảng bá “đặc sản Tây Bắc” là vấn đề đáng quan tâm hơn về nguồn gốc hàng hóa và quyền được biết của người tiêu dùng.

Theo kết quả điều tra ban đầu về vụ án liên quan đến Vũ Hoàng Hải, thường gọi là Hải Sapa, nguyên liệu để sản xuất sản phẩm “thịt trâu sấy khô tê cay” là thịt trâu đông lạnh nhập khẩu từ Ấn Độ. Tuy nhiên, Vũ Hoàng Hải và vợ bị cáo buộc quảng bá sản phẩm trên mạng xã hội là “thịt trâu sấy đặc sản Tây Bắc”, gắn logo Hải SapaTV để bán ra thị trường. Vũ Hoàng Hải đã bị khởi tố để điều tra về hành vi “Lừa dối khách hàng”.

thit-trau-an-do-dac-an-tay-bac-va-cai-gia-cua-su-nhap-nhem-1.jpg
Vũ Hoàng Hải và vợ bị cáo buộc dùng nguyên liệu là thịt trâu đông lạnh Ấn Độ, quảng bá sản phẩm trên mạng xã hội là “thịt trâu sấy đặc sản Tây Bắc”, gắn logo Hải SapaTV để bán ra thị trường. Ảnh: MXH

Vụ án đang được tiếp tục điều tra, trách nhiệm của từng cá nhân sẽ được cơ quan chức năng làm rõ. Nhưng từ khoảng cách giữa nguồn nguyên liệu thực tế và cách sản phẩm được quảng bá, một câu hỏi rộng hơn được đặt ra: người tiêu dùng thực sự biết bao nhiêu về thứ mình đang trả tiền để mua?

Thực tế, thịt trâu đông lạnh Ấn Độ vốn không xa lạ với thị trường Việt Nam. Với lợi thế về nguồn cung và giá cả, loại thịt này được sử dụng tại nhiều cơ sở chế biến. Nếu được nhập khẩu hợp pháp, bảo đảm các điều kiện theo quy định, bản thân nguồn nguyên liệu không phải là vấn đề.

Điều đáng bàn nằm ở chặng sau đó, khi thịt nhập khẩu qua chế biến, đóng gói, mang một tên gọi khác rồi được giới thiệu tới người mua.

Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, bà Nguyễn Thị Thu Hoài – Phó Viện trưởng Viện Kỹ thuật Chống hàng giả và Gian lận thương mại cho rằng, với thực phẩm chế biến, cần phân biệt rõ nguồn nguyên liệu, nơi sản xuất và cách sản phẩm được giới thiệu ra thị trường.

Theo bà Hoài, thịt trâu đông lạnh nhập khẩu nếu bảo đảm nguồn gốc, chất lượng và các điều kiện lưu thông theo quy định hoàn toàn có thể được sử dụng làm nguyên liệu cho sản phẩm chế biến trong nước. Vì vậy, không nên nhìn câu chuyện theo hướng rằng cứ sử dụng nguyên liệu nhập khẩu là có vấn đề.

Điều cần quan tâm là thông tin đưa đến người tiêu dùng có phản ánh đúng bản chất hàng hóa hay không. Với thực phẩm chế biến, người mua cần biết mình đang lựa chọn sản phẩm gì, được làm từ nguyên liệu nào. Nếu tên gọi, hình ảnh hoặc nội dung quảng cáo khiến người mua hiểu về nguồn gốc sản phẩm khác với thực tế thì đó mới là vấn đề cần xem xét”, bà Hoài phân tích.

Theo bà, một điểm cần phân biệt rõ là nơi chế biến không đồng nghĩa với nguồn gốc nguyên liệu. Một sản phẩm có thể được chế biến tại Tây Bắc hoặc theo phương pháp, hương vị đặc trưng của Tây Bắc, nhưng nguyên liệu được đưa đến từ nơi khác. Bởi vậy, chỉ riêng tên gọi gắn với địa phương chưa đủ để kết luận nguyên liệu của sản phẩm có nguồn gốc tại địa phương đó.

Nhưng ở chiều ngược lại, nguồn nguyên liệu cũng không nên bị mập mờ bởi tên gọi hay cách quảng bá. Bởi người mua không chỉ nhìn vào vài chữ trên bao bì mà còn tiếp nhận tổng thể thông tin từ tên sản phẩm, hình ảnh, lời giới thiệu đến nội dung quảng cáo.

Phải nhìn vào tổng thể thông tin mà người mua nhận được. Nếu cách giới thiệu khiến họ tin rằng sản phẩm gắn với nguồn nguyên liệu của một vùng miền cụ thể, trong khi thực tế không phải như vậy, thì cần xem xét liệu thông tin đó có gây nhầm lẫn hay không”, bà Hoài nói.

Luật sư Nguyễn Thị Thu Hoài – Phó Viện trưởng Viện Kỹ thuật Chống hàng giả và Gian lận thương mại. Ảnh: Nguyễn Giang
Bà Nguyễn Thị Thu Hoài – Phó Viện trưởng Viện Kỹ thuật Chống hàng giả và Gian lận thương mại. Ảnh: Nguyễn Giang

Vấn đề càng đáng lưu ý với những sản phẩm được quảng bá là “đặc sản”. Theo bà Nguyễn Thị Thu Hoài, giá trị của một đặc sản không chỉ đến từ cách chế biến mà có thể còn gắn với vùng nguyên liệu, uy tín của người sản xuất và danh tiếng được gây dựng qua thời gian.

Nếu một sản phẩm khai thác hình ảnh, danh tiếng của đặc sản vùng miền nhưng nguồn nguyên liệu lại không được thông tin đủ rõ, người mua có thể hình dung sai về giá trị thực của hàng hóa. Xa hơn, những cơ sở thực sự đầu tư vào vùng nguyên liệu, chất lượng và thương hiệu đặc sản cũng có thể chịu bất lợi trong cạnh tranh.

Đó cũng chính là “cái giá” của sự nhập nhèm. Người tiêu dùng có thể bỏ tiền cho một giá trị mà họ tưởng mình nhận được; trong khi những người làm sản phẩm thực sự gắn với vùng nguyên liệu lại phải cạnh tranh với một sản phẩm có nguồn nguyên liệu và cấu trúc chi phí khác.

Theo bà Hoài, khi thực phẩm, đặc sản vùng miền ngày càng được bán nhiều qua mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc càng cần được đặt đúng mức. Người mua khó có điều kiện trực tiếp kiểm chứng nguyên liệu hay quá trình sản xuất, trong khi quyết định mua hàng phần lớn dựa vào thông tin do người bán cung cấp.

Truy xuất không chỉ để biết hàng hóa đi từ đâu đến đâu, mà phải giúp làm rõ sản phẩm được làm từ nguyên liệu gì, sản xuất ở đâu và những thông tin cần thiết liên quan đến hàng hóa. Khi thông tin đủ rõ, người tiêu dùng có cơ sở để lựa chọn, còn những doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc cũng được bảo vệ tốt hơn”, bà Hoài nói.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Hoài, thị trường hoàn toàn có chỗ cho sản phẩm sử dụng nguyên liệu nhập khẩu cũng như sản phẩm gắn với nguồn nguyên liệu địa phương. Điều quan trọng là mỗi sản phẩm phải được giới thiệu đúng với những giá trị thực sự mà nó có.

Một sản phẩm có thể được chế biến theo cách của Tây Bắc nhưng sử dụng nguyên liệu từ nơi khác, và điều đó cần được thông tin rõ ràng. Khi người mua biết chính xác nguyên liệu từ đâu, sản phẩm được chế biến thế nào, họ sẽ tự quyết định lựa chọn. Sự minh bạch chính là cách tốt nhất để bảo vệ người tiêu dùng và cả những người đang làm đặc sản một cách nghiêm túc”, bà Nguyễn Thị Thu Hoài nhấn mạnh.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Thịt trâu Ấn Độ, “đặc sản Tây Bắc” và cái giá của sự nhập nhèm
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO