Được cho là hướng đi cần thiết để phát triển kinh tế biển hiện đại, tuy nhiên, góp ý dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), không ít ý kiến cho rằng, cần làm rõ giới hạn cơ chế thử nghiệm công nghệ biển, tránh tạo rủi ro pháp lý.
Dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được xây dựng với bố cục gồm 6 chương, 76 điều, giảm 4 chương và 5 điều so với luật hiện hành. Các nội dung trọng tâm gồm quản lý không gian biển thông qua quy hoạch quốc gia; hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, thúc đẩy sử dụng biển đa mục đích; tăng cường đăng ký, quản lý hồ sơ và kết nối dữ liệu, bảo đảm quyền tiếp cận biển hợp pháp của người dân.

Việc sửa đổi luật nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu; đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Đánh giá cao các nội dung được cơ quan soạn thảo đề xuất, tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, góp ý xây dựng và hoàn thiện dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), không ít ý kiến cho rằng, cần làm rõ giới hạn cơ chế thử nghiệm công nghệ biển, tránh tạo rủi ro pháp lý.
Quan tâm đến quy định về xác định giới hạn pháp lý của cơ chế thử nghiệm có kiểm soát công nghệ biển tại khoản 6 Điều 40 và khoản 7 Điều 42, đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Đoàn đại biểu Quốc hội TP Huế đề nghị, phân biệt chấm dứt ưu đãi cho thời gian còn lại với thu hồi khoản ưu đãi đã hưởng. Việc thu hồi chỉ nên áp dụng khi có căn cứ rõ ràng, như gian lận, giả mạo hồ sơ hoặc sử dụng hỗ trợ sai mục đích; không để các quy định quá rộng làm phát sinh rủi ro pháp lý kéo dài cho nhà đầu tư.

Đối với khoản 4 (mô hình kinh tế biển mới, công nghệ biển mới) và khoản 6 Điều 44, đại biểu cho rằng, cơ chế thử nghiệm phải có giới hạn về phạm vi, thời hạn, cấu phần được thử nghiệm, tiêu chí đánh giá rủi ro và thẩm quyền tạm dừng, chấm dứt. Luật cần chỉ rõ trường hợp được thử nghiệm khác quy định hiện hành; không giao thẩm quyền mở để phát sinh miễn trừ ngoài giới hạn của Quốc hội.
“Thử nghiệm công nghệ không thể đồng nghĩa với miễn nghĩa vụ phòng ngừa, ứng phó sự cố và phục hồi môi trường”, đại biểu bày tỏ.
Cùng với các vấn đề đã nêu đã nêu, đại biểu cũng đề nghị tại khoản 1 đến khoản 3 Điều 45 dự thảo luật, cần làm rõ Quỹ không gian biển là tập hợp các khu vực đã điều tra, đánh giá, xác định ranh giới và mục đích sử dụng; việc đưa vào danh mục không tự tạo quyền ưu tiên hay độc quyền cho nhà đầu tư.
Cũng quan tâm đến quy định tại khoản 1, khoản 5 và khoản 6 Điều 44 của dự thảo luật, đại biểu Phạm Hùng Thắng, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình cho rằng, thử nghiệm công nghệ mới trong lĩnh vực biển là hướng đi cần thiết để phát triển kinh tế biển hiện đại. Tuy nhiên, quy định cho phép thử nghiệm công nghệ biển mới, mô hình kinh tế biển mới khác pháp luật hiện hành phải được xem xét thận trọng.
Theo đại biểu, nếu không xác định phạm vi quy định được áp dụng khác; thẩm quyền quyết định và cơ chế bảo vệ người bị ảnh hưởng thì cơ chế thử nghiệm có thể bị hiểu thành quy định miễn trừ nghĩa vụ bảo vệ môi trường hoặc trách nhiệm bồi thường. Đổi mới sáng tạo phải được khuyến khích nhưng không thể chuyển toàn bộ rủi ro từ việc thử nghiệm sang cộng đồng và hệ sinh thái biển.
Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc: “Quyết định cho phép thử nghiệm phải chỉ rõ căn cứ pháp lý; nội dung được áp dụng khác pháp luật; phạm vi, thời hạn, biện pháp giám sát và điều kiện chấm dứt thử nghiệm. Tổ chức thực hiện thử nghiệm phải có nguồn lực ứng phó, khắc phục, phục hồi môi trường; không loại trừ quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại hợp pháp của bên thứ ba”. Đồng thời đề nghị, những nội dung cụ thể giao Chính phủ quy định chi tiết.