Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam được kỳ vọng mở thêm dư địa cho hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Liên bang Nga.
Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam từ ngày 7-9/9/2026, kinh tế, thương mại và đầu tư được đặt trong tổng thể định hướng làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Một trong những mục tiêu đáng chú ý là nâng kim ngạch thương mại song phương lên 15 tỷ USD vào năm 2030, theo Kế hoạch Hợp tác Toàn diện Nga - Việt Nam đến năm 2030 được hai bên ký năm 2025. Hai bên cho rằng, để đạt mục tiêu này, hợp tác Việt - Nga cần đi xa hơn mô hình xuất nhập khẩu hàng hóa đơn thuần, hướng tới mở rộng hợp tác công nghệ và công nghiệp.
Đây là yêu cầu đáng chú ý trong bối cảnh quy mô thương mại song phương vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng của hai nền kinh tế. Theo số liệu Cục Hải quan Việt Nam, năm 2025, tổng kim ngạch thương mại Việt Nam - Nga đạt 4,77 tỷ USD, tăng 4% so với năm trước. Trong 7 tháng năm 2026, con số này đạt 3,24 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2025.
Đáng chú ý, mức tăng trưởng hiện nay chủ yếu đến từ chiều nhập khẩu của Việt Nam. Trong 7 tháng đầu năm nay, Việt Nam xuất khẩu sang Nga 1,33 tỷ USD, giảm 4,4%, trong khi nhập khẩu từ Nga đạt 1,91 tỷ USD, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Cơ cấu thương mại cho thấy dư địa để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị phần vẫn còn rất lớn. Cà phê tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang Nga, đạt khoảng 306 triệu USD trong 7 tháng, chiếm 23% tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này. Dệt may, thủy sản, máy móc, thiết bị và phụ tùng cũng là những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực.
Ở chiều ngược lại, than là mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Nga, với kim ngạch khoảng 960 triệu USD, tiếp đến là phân bón và một số nhóm kim loại.
Những con số này cho thấy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã có nền tảng, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu nâng chất lượng tăng trưởng: không chỉ bán thêm hàng hóa mà phải tạo thêm các chuỗi hợp tác có giá trị gia tăng cao hơn.
Nếu thương mại đang có dấu hiệu tăng tốc, đầu tư hai chiều lại là lĩnh vực còn nhiều khoảng trống. Tính đến hết tháng 7/2026, Nga có 242 dự án đầu tư tại Việt Nam, với tổng vốn đăng ký gần 996 triệu USD, đứng thứ 28 trong số 153 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam có 19 dự án tại Nga, với tổng vốn xấp xỉ 1,64 tỷ USD. Nga hiện đứng thứ 5 trong số 88 quốc gia và vùng lãnh thổ mà doanh nghiệp Việt Nam có đầu tư ra nước ngoài. Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp Việt Nam tại Nga gồm khai khoáng, công nghiệp và kinh doanh bất động sản.
Sự chênh lệch về quy mô đầu tư này cho thấy Việt Nam không chỉ là thị trường tiếp nhận vốn đầu tư từ Nga mà còn đang hình thành vị thế nhà đầu tư tại thị trường Nga.
Một ví dụ tiêu biểu là Tập đoàn TH với các dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tại Nga. Bên cạnh đó, hai nước đã có các thỏa thuận thúc đẩy sản xuất phương tiện vận tải có động cơ tại Việt Nam. Những dự án như vậy cho thấy mô hình hợp tác có thể chuyển từ mua bán sản phẩm sang sản xuất ngay tại thị trường của đối tác, qua đó tạo ra chuỗi giá trị dài hơn.
Phó Thủ tướng Liên bang Nga Dmitry Chernyshenko cho rằng hai nước cần xây dựng một nền tảng mới cho hợp tác thương mại và đầu tư sau khi những ưu đãi trong giai đoạn quá độ của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU) kết thúc. Theo ông, trọng tâm không chỉ là xuất khẩu mà còn phải mở rộng sang công nghệ và công nghiệp.
Một nội dung đáng chú ý trong các cuộc trao đổi ngày 8/9 giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Trợ lý Tổng thống Liên bang Nga, Chủ tịch Hội đồng Biển Liên bang Nga Nikolai Patrushev là hợp tác biển và logistics.
Việt Nam đề nghị hai bên nghiên cứu phát triển các tuyến vận tải biển hiệu quả, tăng cường kết nối cảng biển, doanh nghiệp vận tải và logistics của hai nước nhằm giảm chi phí và tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa. Đồng thời, Việt Nam đề nghị nghiên cứu hợp tác đóng mới, sửa chữa, bảo dưỡng tàu và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực đóng tàu phù hợp với nhu cầu của Việt Nam.
Nếu được cụ thể hóa thành các dự án, đây có thể là một hướng hợp tác có tác động trực tiếp tới thương mại song phương. Việc hình thành các tuyến vận tải, kết nối cảng và mạng lưới logistics hiệu quả hơn có thể giúp doanh nghiệp hai nước giảm chi phí giao dịch, mở rộng nhóm hàng và tăng tính ổn định của chuỗi cung ứng.
Trong khi đó, năng lượng tiếp tục là trụ cột quan trọng trong quan hệ kinh tế Việt – Nga. Hai nước đã có hàng chục năm hợp tác trong lĩnh vực dầu khí, với những dự án mang tính biểu tượng như Vietsovpetro.
Đặc biệt, không gian hợp tác hiện được mở rộng sang LNG, điện khí, cơ sở hạ tầng năng lượng, năng lượng tái tạo và các lĩnh vực năng lượng mới. Đây là dư địa quan trọng để hai bên mở rộng hợp tác năng lượng trong giai đoạn mới.
Có thể thấy, dư địa lớn nhất có thể không nằm ở việc đơn thuần tăng thêm vài nhóm hàng xuất khẩu, mà ở khả năng hình thành những chuỗi hợp tác mới: doanh nghiệp Nga đầu tư sâu hơn vào sản xuất tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam mở rộng đầu tư và phân phối tại Nga; hai bên kết nối logistics và cảng biển; đồng thời hợp tác trong công nghiệp, năng lượng và công nghệ.
Với Việt Nam, thị trường Nga còn có ý nghĩa ở khả năng đa dạng hóa thị trường và đối tác trong bối cảnh thương mại quốc tế biến động. Với Nga, Việt Nam có thể đóng vai trò một điểm kết nối quan trọng với Đông Nam Á và các chuỗi cung ứng khu vực.
Nhưng để mục tiêu thương mại 15 tỷ USD vào năm 2030 trở thành hiện thực, yếu tố quyết định sẽ nằm ở khả năng biến những định hướng cấp cao thành dự án đầu tư, tuyến vận tải, hợp đồng thương mại và chuỗi sản xuất cụ thể.
Đây cũng chính là điểm đáng chú ý về kinh tế trong chuyến thăm lần này của của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam: quan hệ Việt - Nga đang đứng trước cơ hội chuyển từ nền tảng hợp tác truyền thống sang một giai đoạn mà thương mại, đầu tư, logistics, công nghiệp và công nghệ bổ trợ cho nhau trong cùng một hệ sinh thái kinh tế.