Để vật liệu xanh thực sự trở thành tiêu chí phổ biến trong đầu tư xây dựng, bài toán lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở công nghệ hay chi phí, mà ở việc thiếu một hệ tiêu chuẩn đồng bộ.
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, phát triển kinh tế carbon thấp, ngành xây dựng đang đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi mạnh mẽ và toàn diện hơn. Không chỉ là lĩnh vực tiêu thụ khối lượng lớn tài nguyên, năng lượng, xây dựng còn là một trong những ngành có mức phát thải đáng kể, tác động trực tiếp đến mục tiêu tăng trưởng bền vững và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Trong tiến trình đó, vật liệu xây dựng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là ngành cung cấp đầu vào thiết yếu cho phát triển hạ tầng, đô thị, nhà ở, công nghiệp và các công trình kinh tế - xã hội. Nhưng đồng thời, đây cũng là lĩnh vực sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, tiêu hao năng lượng lớn và chịu áp lực ngày càng cao về môi trường. Bởi vậy, xanh hóa ngành vật liệu xây dựng không còn là lựa chọn mang tính xu hướng, mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết của phát triển.
Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách quan trọng đã được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển vật liệu xây dựng xanh, từ Chỉ thị 03-CT/TW, Quyết định số 527/QĐ-TTg đến Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2030, định hướng 2050. Đây được xem là những nền tảng chính sách quan trọng, định hình lại chiến lược đầu tư và sản xuất của doanh nghiệp trong ngành.
Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp vật liệu xây dựng đã bắt đầu chuyển dịch theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm tiêu hao năng lượng, ứng dụng công nghệ mới và gia tăng tỷ lệ vật liệu thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, dù xu hướng chuyển đổi đã rõ ràng, quá trình hiện thực hóa vẫn gặp không ít lực cản.
Theo phản ánh từ cộng đồng doanh nghiệp, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thiếu một hệ thống tiêu chuẩn đồng bộ và cơ chế hỗ trợ đủ rõ để dẫn dắt thị trường. Khi chưa có “thước đo” thống nhất, vật liệu xanh vẫn khó được nhận diện đúng, khó tạo lợi thế cạnh tranh và càng khó mở rộng quy mô tiêu thụ.
Ông Nguyễn Cảnh Hồng, Tổng giám đốc Eurowindow cho biết, chi phí đầu tư cho sản xuất sản phẩm xanh hiện rất cao, trong khi khả năng phân biệt sản phẩm trên thị trường còn hạn chế do thiếu hệ thống nhãn xanh rõ ràng.
“Cần sớm dán nhãn để phân biệt các sản phẩm xanh. Ngoài ra, vấn đề tiếp cận tín dụng xanh từ ngân hàng hiện vẫn còn nhiều khó khăn”, ông Hồng nhấn mạnh.

Theo ông Hồng, doanh nghiệp không chỉ cần cơ chế hỗ trợ tiếp cận tín dụng xanh mà còn cần một hệ thống chứng nhận minh bạch, cùng chế tài quản lý chất lượng sản phẩm sau khi lưu thông trên thị trường. Đây là điều kiện cần để bảo vệ người tiêu dùng, đồng thời tạo niềm tin cho thị trường vật liệu xanh.
Từ góc độ chính sách, ông Lê Quang Hùng, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng cho rằng, để thúc đẩy vật liệu xây dựng xanh phát triển đúng hướng, điều cần thiết trước tiên là rà soát và định hình lại cách tiếp cận theo hướng đồng bộ.
Theo ông Hùng, cần làm rõ khái niệm vật liệu xây dựng xanh, đồng thời xây dựng hệ thống mã định danh thống nhất để tránh chồng chéo trong quản lý. Việc chuẩn hóa vật liệu phải đi cùng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật rõ ràng và có khả năng áp dụng thực tế.
“Hiện nay, việc dán nhãn vật liệu xanh do nhiều tổ chức thực hiện với các tiêu chí chưa thống nhất, dẫn đến thiếu đồng bộ và gây khó khăn cho thị trường. Vì vậy, cần xây dựng một bộ tiêu chí chung, minh bạch”, chuyên gia này đề xuất.
Không chỉ dừng ở khâu định danh, ông Hùng cho rằng cần có thêm các công cụ hỗ trợ thị trường, như ưu tiên sử dụng vật liệu xanh trong các công trình đầu tư công, từng bước giảm giá thành sản phẩm thông qua chính sách hỗ trợ và tăng cường truyền thông để nâng cao nhận thức xã hội.
Đồng quan điểm, ông Trần Bá Việt, Phó Chủ tịch Hội Bê tông Việt Nam nhấn mạnh, vật liệu xanh chỉ có thể đi vào thực tiễn nếu được lượng hóa bằng các tiêu chí cụ thể, thay vì chỉ dừng lại ở khái niệm hay nhãn nhận diện.
Theo ông Việt, nếu chỉ dừng ở việc “gắn nhãn xanh” mà không có tiêu chí định lượng cụ thể, việc triển khai trong thực tế sẽ rất khó khăn.
Ông cho rằng, các yêu cầu về vật liệu xanh cần được đưa ngay từ khâu thiết kế công trình, với những chỉ số rõ ràng như mức tiết kiệm năng lượng, phát thải carbon, hiệu quả sử dụng vật liệu hay chi phí vòng đời trên mỗi m2 xây dựng. Đây phải là cơ sở để thẩm định, phê duyệt và lựa chọn phương án đầu tư, thay vì chỉ dừng ở mức khuyến khích như hiện nay.