Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định, phát triển kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để hiện thực hóa, đảng viên tại các doanh nghiệp tư nhân phải vô cùng đổi mới sáng tạo. Theo ông Tạ Minh Đức, Giám đốc công ty TNHH MTV PKĐK Tâm Đức, vai trò tiên phong của doanh nghiệp, đảng viên trong tư nhân sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh thực chất của doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn mới. Điều này cũng sẽ giúp doanh nghiệp thoát khỏi lối mòn tư duy cạnh tranh bằng dòng vốn hay hướng về "lợi ích nhóm", "thân hữu".
Là một doanh nhân, ông nhìn nhận thế nào về vai trò xây dựng tổ chức Đảng trong doanh nghiệp tư nhân, đảng viên làm kinh tế tư nhân? Và theo ông Nhà nước nên hỗ trợ khu vực tư nhân như thế nào?
Theo tôi Đảng viên tham gia kinh tế tư nhân là hoàn toàn bình thường nếu hoạt động đúng pháp luật, minh bạch và không lợi dụng quyền lực hay quan hệ chính trị để trục lợi.

Thực tế, từ Quy định 15-QĐ/TW năm 2006, Đảng viên đã được phép làm kinh tế tư nhân không giới hạn quy mô, với yêu cầu phải gương mẫu chấp hành pháp luật và Điều lệ Đảng. Một doanh nhân là Đảng viên nếu tạo việc làm, nộp thuế đầy đủ, đổi mới công nghệ và cạnh tranh minh bạch thì cần được tôn trọng như mọi doanh nhân khác. Nhưng nếu lợi dụng quan hệ, thông tin nội bộ, đất đai, giấy phép hay tín dụng ưu ái để trục lợi thì phải bị xử lý nghiêm.
Về hỗ trợ từ phía Nhà nước, tôi cho rằng điều doanh nghiệp thực sự cần hiện nay là một môi trường ổn định, minh bạch và có thể dự đoán được. Cụ thể: Chính sách ổn định dài hạn, giảm chi phí tuân thủ và thủ tục hành chính; Minh bạch pháp lý về đất đai, thuế và đầu tư; Hỗ trợ chuyển đổi số và đổi mới công nghệ; Phát triển thị trường vốn lành mạnh để doanh nghiệp không phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng; Tạo sân chơi công bằng giữa doanh nghiệp Nhà nước, FDI và tư nhân.
Tinh thần này cũng được nhấn mạnh trong Nghị quyết 68-NQ/TW, khi Nhà nước xác định vai trò “kiến tạo và phục vụ”, thay vì can thiệp hành chính trái với nguyên tắc thị trường; đồng thời bảo đảm quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng cho khu vực tư nhân.
Với Nghị quyết 68, kinh tế tư nhân đã được xác định một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Vì vậy, đảng viên làm kinh tế tư nhân càng cần phát huy vai trò dẫn dắt tiên phong, đóng góp tiêu chuẩn tạo giá trị cho xã hội, chứ không chỉ nhìn qua góc độ sở hữu tài sản.
- Theo ông, tăng trưởng của doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay có còn duy trì mô hình cạnh tranh dựa vào vốn và mô hình này đã đi tới giới hạn chưa?
Theo tôi, biểu hiện rõ nhất là nền kinh tế phải bỏ ra ngày càng nhiều vốn để tạo ra một đơn vị tăng trưởng mới. Điều này được phản ánh qua hệ số ICOR của Việt Nam, giai đoạn 2015-2024 dao động quanh mức 5,8-6,4. Nói cách khác, để tạo thêm 1 đồng GDP, nền kinh tế cần gần 6 đồng vốn đầu tư. Đây là dấu hiệu cho thấy tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào mở rộng quy mô đầu tư hơn là nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trong khi bối cảnh hiện nay đã khác, chi phí vốn không còn rẻ như trước, dân số bắt đầu già hóa, lợi thế lao động giá thấp suy giảm,... Điều đáng lo không phải là Việt Nam thiếu vốn, mà là hiệu quả sử dụng vốn chưa cao khi mỗi đồng vốn tạo ra ít năng suất mới.
Số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy năng suất lao động của Việt Nam năm 2025 ước đạt khoảng 245 triệu đồng mỗi lao động, tương đương khoảng 9.800 USD/người. Con số này có cải thiện, nhưng vẫn cho thấy dư địa nâng cao chất lượng tăng trưởng còn rất lớn, đặc biệt nếu so với các nền kinh tế công nghiệp trong khu vực. Bản thân chúng tôi là các doanh nghiệp cũng đang rất “sốt ruột” và nỗ lực cải thiện vấn đề này.

- Vậy điều cần thay đổi để doanh nghiệp tư nhân, các đảng viên làm kinh tế tư nhân thực sự phát huy vai trò tiên phong, dẫn dắt tạo giá trị cho xã hội là gì, thưa ông?
Chúng ta không nên hiểu “thoát tăng trưởng dựa vào vốn” là giảm đầu tư hay hạn chế vay vốn. Doanh nghiệp ở bất kỳ nền kinh tế nào cũng cần vốn để phát triển. Điều quan trọng là phải chuyển từ tư duy dùng vốn để “phình to” sang dùng vốn để nâng năng suất.
Nếu vốn được đầu tư vào tự động hóa, dữ liệu, R&D, đào tạo nhân lực, quản trị chuỗi cung ứng, thương hiệu hay mở rộng thị trường xuất khẩu, thì đó là loại vốn giúp doanh nghiệp tăng sức mạnh thực chất.
Vì vậy, câu hỏi không phải là doanh nghiệp vay bao nhiêu, mà là mỗi đồng vốn mới có tạo ra năng suất cao hơn hay không. Là doanh nghiệp, chúng tôi chú trọng về tăng doanh thu trên mỗi lao động, cải thiện vòng quay hàng tồn kho, giữ đà ổn định của biên lợi nhuận có bền vững hơn, xa hơn là củng cố và tăng năng lực cạnh tranh quốc tế… Doanh nghiệp vững vàng và phát triển mạnh, bảo đảm sự liêm chính kinh doanh, là kết quả của sự thay đổi để phát huy vai trò dẫn dắt ấy.
- Từ góc nhìn của ông, động lực tăng trưởng mới của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam sẽ nằm ở đâu trong bối cảnh hiện nay?
Tôi cho rằng có năm động lực quan trọng. Thứ nhất là năng suất quản trị. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam không thiếu ý chí hay cơ hội thị trường, nhưng lại thua ở khả năng quản trị dòng tiền, tồn kho, dữ liệu khách hàng hay chi phí vốn. Khi quy mô doanh nghiệp lớn lên mà cách quản trị vẫn thủ công, hiệu quả sẽ giảm rất nhanh.
Thứ hai là công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết 68-NQ/TW đã đặt mục tiêu đến năm 2030 khu vực kinh tế tư nhân có khoảng 2 triệu doanh nghiệp, đóng góp 55-58% GDP và tăng năng suất lao động bình quân khoảng 8,-9,5% mỗi năm. Đây là thông điệp chính sách rất rõ, thể hiện khu vực tư nhân không chỉ đóng vai trò tạo việc làm hay tăng trưởng doanh thu, mà còn phải trở thành lực lượng nâng năng suất quốc gia.
Thứ ba là tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Doanh nghiệp Việt Nam cần chuyển từ gia công đơn thuần sang các khâu có giá trị gia tăng cao hơn như thiết kế, tiêu chuẩn chất lượng, logistics, thương hiệu và phân phối.
Thứ tư là xanh hóa và số hóa. Đây không còn là khẩu hiệu mà đang trở thành điều kiện bắt buộc để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các ngành xuất khẩu.
Thứ năm là phát triển nguồn vốn dài hạn. Chúng tôi kỳ vọng vào các chính sách để thúc đẩy sự phát triển mạnh của thị trường trái phiếu, cổ phiếu, quỹ đầu tư, bảo hiểm và hưu trí để tạo nguồn vốn bền vững cho khu vực tư nhân.
Trân trọng cảm ơn ông!