Tín dụng - Ngân hàng

Áp lực huy động vốn tác động ra sao đến điều hành chính sách tiền tệ?

Lê Mỹ 19/07/2026 02:34

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho rằng áp lực huy động vốn đang khiến việc điều hành lãi suất gặp nhiều khó khăn.

Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước phải điều hành chính sách lãi suất trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế rất lớn, trong khi khả năng huy động vốn còn hạn chế. Khi nguồn vốn thiếu hụt, lãi suất huy động tăng sẽ tạo áp lực lên lãi suất cho vay, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Thong doc
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn

Phát biểu tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp vào ngày 18/7, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn đã làm rõ nhiều vấn đề liên quan đến điều hành chính sách tiền tệ, huy động vốn và phát triển thị trường vốn.

Nhu cầu vốn lớn, khả năng huy động còn hạn chế

Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn khẳng định, nhu cầu vốn của nền kinh tế hiện rất lớn trong khi khả năng huy động còn hạn chế, khiến việc điều hành mặt bằng lãi suất thời gian qua "tương đối vất vả".

Ông cho biết, chúng ta tập trung vào tăng trưởng kinh tế, tập trung vào tín dụng, vì vậy khi thiếu hụt vốn thì đương nhiên lãi suất nâng cao. Lãi suất huy động đầu vào tăng thì lãi suất đầu ra cũng tăng, tác động trực tiếp đến doanh nghiệp", Thống đốc nói.

Để giảm áp lực này, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành theo hướng hạn chế cạnh tranh lãi suất huy động giữa các tổ chức tín dụng nhằm giữ mặt bằng lãi suất cho vay ở mức hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống.

Đối với bài toán huy động nguồn lực từ nước ngoài, Thống đốc cho biết Ngân hàng Nhà nước đang phối hợp với Bộ Tài chính tính toán phương án phù hợp trên cơ sở nhu cầu vốn của nền kinh tế.

Liên quan đến tín dụng ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước cũng đang nghiên cứu mở rộng đối tượng được vay. Theo đó, các doanh nghiệp nhập khẩu phục vụ đầu tư có thể sẽ được xem xét tiếp cận nguồn vốn ngoại tệ trong thời gian tới.

Về cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng, ông Phạm Đức Ấn cho biết khoảng 80% là vốn huy động ngắn hạn, trong khi vốn trung và dài hạn chỉ chiếm khoảng 20%. Trong khi đó, nhu cầu vay trung, dài hạn của doanh nghiệp ngày càng lớn, tạo áp lực lên các ngân hàng. Các tổ chức tín dụng phải cân đối giữa mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp và yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống, Thống đốc nhấn mạnh

Trước đó, theo trình bày của ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), có 5 vướng mắc, khó khăn của ngành ngân hàng. Thứ nhất là khó khăn trong việc bố trí đủ nguồn vốn để cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Thứ hai là tình trạng mất cân đối về nguồn vốn. Thứ ba là áp lực chi phí vốn dự kiến gia tăng trong thời gian tới. Thứ tư là những thách thức liên quan đến nguồn cung ngoại tệ và tỷ giá. Thứ năm là các vấn đề về chính sách tài sản bảo đảm, cũng như việc quy hoạch tại các địa phương ảnh hưởng đến tài sản bảo đảm của ngân hàng khi cho vay.

Trên cơ sở tính toán, phân tích, Chủ tịch Vietcombank cho rằng nguồn tích lũy trong nước sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Trong bối cảnh hàng loạt dự án quy mô lớn sẽ được triển khai thời gian tới, các ngân hàng sẽ không còn dư địa vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng. Vì vậy, giải pháp tất yếu là phải huy động thêm nguồn vốn từ bên ngoài.

Ông Nguyễn Thanh Tùng đề xuất Bộ Tài chính được xem xét phát hành trái phiếu quốc tế trong thời gian tới. Theo ông, với uy tín hiện nay của Việt Nam, việc phát hành trái phiếu quốc tế có thể đạt được mức lãi suất thuận lợi hơn so với việc từng doanh nghiệp tự huy động vốn như hiện nay.

Bên cạnh đó, ông cũng bày tỏ mong muốn thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, sẽ được phát triển mạnh mẽ hơn. Hiện quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam chỉ tương đương khoảng 10% GDP, thấp hơn đáng kể so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia hay Trung Quốc.

Theo Chủ tịch Vietcombank, để thúc đẩy thị trường này phát triển, ngành ngân hàng có thể tham gia hỗ trợ thông qua cơ chế nhận tài sản bảo đảm của các tổ chức phát hành. Hiện nay, nhiều trái phiếu doanh nghiệp chưa tạo được niềm tin với nhà đầu tư do tài sản bảo đảm chủ yếu là bất động sản hoặc tài sản hình thành từ vốn vay - những loại tài sản mà chỉ các tổ chức tín dụng mới có thể nhận thế chấp. Nếu có sự phối hợp đồng bộ giữa ngành ngân hàng và ngành tài chính, thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ có thêm động lực để phát triển.

Làm rõ thêm ý kiến của Vietcombank về chi phí cho vay và bảo lãnh, Thống đốc Phạm Đức Ấn cũng cho biết các ngân hàng trong nước cũng phải huy động vốn từ nước ngoài nên chi phí vốn tăng là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước sẵn sàng phối hợp với doanh nghiệp để nghiên cứu các cơ chế đặc thù nếu có đề xuất phù hợp.

Đối với kiến nghị về tài sản bảo đảm cho trái phiếu doanh nghiệp, Thống đốc cho biết Ngân hàng Nhà nước đã báo cáo Chính phủ và sẽ đưa nội dung này vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng. Theo đó, các ngân hàng thương mại sẽ được trao quyền cung cấp dịch vụ quản lý tài sản bảo đảm cho hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Giải pháp này được kỳ vọng sẽ góp phần phát triển thị trường vốn, giảm áp lực cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn từ hệ thống ngân hàng.

Dự báo mặt bằng lãi suất còn cao?

Liên quan đến giải quyết bài toán nguồn vốn, kỳ vọng của các tổ chức tín dụng nói chung, thể hiện trong kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của Vụ Dự báo, Thống kê (Ngân hàng Nhà nước) cho thấy, tại kỳ điều tra cho quý III, các tổ chức tín dụng đã điều chỉnh giảm 1,6 điểm phần trăm đối với kỳ vọng về tăng trưởng huy động vốn xuống còn 14,3% và giảm 1,5 điểm phần trăm đối với kỳ vọng về tăng trưởng tín dụng xuống còn 14,5% trong năm 2026 so với kỳ vọng ghi nhận tại kỳ điều tra trước. Đồng thời, các tổ chức tín dụng kỳ vọng tăng trưởng bình quân 4,2% trong quý III/2026 đối với cả huy động vốn và dư nợ tín dụng.

Thủ tướng yêu cầu NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thích ứng an toàn... - Ảnh: ITN
Nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế và kỳ vọng lạm phát cũng tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất. (Ảnh: ITN)

Huy động vốn ngắn hạn vẫn được dự báo tăng trưởng cao hơn dài hạn. Tuy nhiên, tín dụng trung và dài hạn được dự báo tăng trưởng cao hơn tín dụng ngắn hạn, phản ánh cấu trúc tín dụng đang dịch chuyển sang các dự án đầu tư tài sản cố định và hạ tầng, phù hợp với định hướng hỗ trợ tăng trưởng bền vững của Chính phủ.

Từ góc nhìn chuyên gia, TS Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV nhận định, lãi suất tăng thời gian qua xuất phát từ nhiều nguyên nhân.

Thứ nhất, khi nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao, kéo theo nhu cầu vốn tăng lên. Khi nhu cầu vốn tăng, hệ thống tổ chức tín dụng cần điều chỉnh lãi suất để đảm bảo nguồn tiền vào ngân hàng, qua đó có nguồn lực cho vay.

Thứ hai, các kênh đầu tư khác như bất động sản, vàng, bạc, tiền số và tài sản số trở nên hấp dẫn hơn, khiến việc duy trì lãi suất quá thấp có thể gây khó khăn trong việc thu hút dòng tiền vào hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế và kỳ vọng lạm phát cũng tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất.

Theo đó, chuyên gia cho rằng lãi suất hiện nay đã không còn xu hướng tăng mạnh. Tuy nhiên ông dự báo chúng ta có thể chấp nhận một mặt bằng lãi suất cao hơn so với trước đây.

"Vấn đề của doanh nghiệp là phải cơ cấu lại hoạt động kinh doanh bởi cấu trúc tài chính cần thông minh hơn và tối ưu hơn”, TS Cấn Văn Lực khuyến nghị đến doanh nghiệp.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Áp lực huy động vốn tác động ra sao đến điều hành chính sách tiền tệ?
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO