Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa năng lượng truyền thống dần thu hẹp, dù được kỳ vọng trở thành trụ cột mới, tuy nhiên, việc phát triển điện gió ngoài khơi vẫn còn đó những tồn tại.
Theo Quy hoạch điện VIII, điện gió ngoài khơi giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu nguồn điện. Công suất dự kiến đạt khoảng 6 GW vào năm 2030 và tăng lên gần 140 GW vào năm 2050. Tỷ trọng điện gió ngoài khơi trong cơ cấu nguồn điện tăng từ khoảng 4% năm 2030 tăng lên 16% vào năm 2050.
Thực tế, dù sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.000 km với các khu vực ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ có chất lượng gió cao, ổn định, tạo lợi thế rõ rệt cho phát triển điện gió, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, tuy nhiên, mức khai thác hiện tại vẫn còn rất khiêm tốn, chưa tới 1/4 tổng tiềm năng thực tế.

Nguyên nhân của hiện trạng đã nêu được cho xuất phát từ những “nút thắt” chính sách. Trong đó, hành lang pháp lý chưa định hình rõ nét, hiện vẫn chưa có quy định cụ thể về việc giao khu vực biển, quy trình khảo sát và trình tự đầu tư riêng biệt cho loại hình điện gió ngoài khơi.
Hạ tầng truyền tải chưa đồng bộ, quy hoạch lưới điện vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển nguồn, thiếu các trạm biến áp và hệ thống truyền dẫn xa bờ để giải tỏa công suất cho các dự án quy mô lớn. Vẫn thiếu các chính sách hỗ trợ vốn và huy động đầu tư đặc thù cho các dự án năng lượng xanh dài hạn. Cùng với đó, hệ thống lưu trữ hiện chưa được công nhận chính thức là một loại hình nguồn điện trong các quy định pháp luật…
Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa năng lượng truyền thống dần thu hẹp, để hiện thực hóa mục tiêu phát triển như kỳ vọng, không ít ý kiến cho rằng, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải sớm hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế giá và chuẩn bị đồng bộ về vốn, hạ tầng và công nghệ.
Theo PGS, TS Lê Quang Duyến, Trưởng khoa Dầu khí và Năng lượng, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, hoàn thiện khung pháp lý là yêu cầu tiên quyết.

Cụ thể, vị chuyên gia này đề xuất, cần sớm ban hành các Nghị định hướng dẫn về giao khu vực biển phục vụ khảo sát, xây dựng quy trình đầu tư riêng cho điện gió ngoài khơi, đồng thời rà soát, sửa đổi các quy định còn chồng chéo trong pháp luật về điện lực, tài nguyên và môi trường biển, hải đảo.
“Nếu không có một hành lang pháp lý rõ ràng, thống nhất, việc triển khai các dự án điện gió ngoài khơi sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức”, vị chuyên gia này cảnh báo.
Về cơ chế giá và đầu tư, ông đề xuất, xây dựng cơ chế giá điện gió ngoài khơi theo lộ trình phù hợp, đi kèm với việc triển khai mua bán điện trực tiếp (DPPA). Các chính sách ưu đãi ổn định, dài hạn được coi là “chìa khóa” để thu hút dòng vốn lớn, đặc biệt là từ các nhà đầu tư quốc tế.
Bên cạnh đó, cần thành lập một cơ quan đầu mối trực thuộc Chính phủ để thống nhất chỉ đạo chiến lược, quy hoạch và phát triển điện gió ngoài khơi; đồng thời hình thành các trung tâm nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao.
Ngoài ra, liên quan đến quy hoạch và nguồn vốn, PGS, TS Lê Quang Duyến cho rằng, Việt Nam cần đi trước một bước trong quy hoạch điện gió ngoài khơi để tạo tín hiệu rõ ràng cho thị trường. Đồng thời, cần chủ động tận dụng các quỹ tài chính khí hậu, nguồn vốn dài hạn, cũng như tăng cường hợp tác với các quốc gia có kinh nghiệm như Anh, Đan Mạch, Đức và Trung Quốc.
Với lưu trữ năng lượng, vị này khẳng định, đây là “một cấu phần không thể thiếu của hệ thống điện”, có thể vận hành độc lập hoặc gắn với các nguồn năng lượng tái tạo, và cần được đưa đầy đủ vào quy hoạch điện quốc gia.
Các công nghệ như pin, thủy điện tích năng, lưu trữ nhiệt hay hydrogen cần được nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá thận trọng theo điều kiện Việt Nam. Trong đó, mô hình điện phân hydrogen ngoài khơi hiện còn hiệu suất thấp, còn phương án truyền điện vào bờ để điện phân cần được xem xét toàn diện trước khi triển khai.
“Đồng thời, cho phép tích hợp hệ thống lưu trữ trong các dự án điện gió ngoài khơi, áp dụng cơ chế khấu hao và ưu đãi cao hơn đối với các dự án có đầu tư lưu trữ; song song với đó là quy hoạch đồng bộ lưới điện, đầu tư hạ tầng cảng biển và thúc đẩy nội địa hóa thiết bị”, PGS, TS Lê Quang Duyến kiến nghị.
Còn theo TS Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Nghị quyết số 253/2025/QH15 đã thể hiện quyết tâm rất lớn của Trung ương trong việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế đối với lĩnh vực năng lượng, đặc biệt là điện gió ngoài khơi. Đây là lần đầu tiên cơ chế khảo sát, chấp thuận chủ trương đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư được thiết kế theo từng giai đoạn, gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng - an ninh trên biển và bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, về dài hạn, với đặc thù đầu tư quy mô lớn, vòng đời kéo dài hàng chục năm, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng một đạo luật riêng cho điện gió, nhằm tạo hành lang pháp lý ổn định, minh bạch và đủ sức hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước.
Được biết, liên quan đến vấn đề này, Bộ Công Thương đang xây dựng Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 253/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 – 2030.
Trong đó đề xuất một số quy định về điện gió ngoài khơi như: Điều kiện của đơn vị khảo sát dự án điện gió ngoài khơi phục vụ lập chủ trương đầu tư dự án điện gió ngoài khơi; xử lý chi phí khảo sát, chi phí lập hồ sơ chấp thuận chủ trương đầu tư dự án điện gió ngoài khơi đối với trường hợp cấp có thẩm quyền giao doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ khảo sát;…