Chống tham nhũng không chỉ là việc xét xử đại án, mà phải khóa “vùng mờ” trách nhiệm và thu hồi tài sản sớm, bắt buộc để chặn sai phạm tái diễn và giữ niềm tin xã hội…
Cuộc chiến phòng, chống tham nhũng và tiêu cực ở Việt Nam đã bước qua giai đoạn định hướng khẩu hiệu, để bước vào giai đoạn định hình chuẩn mực quản trị. Sức nóng của cuộc chiến không còn nằm ở tuyên bố, mà nằm ở hành động bóc tách các mắt xích quyền lực có khả năng dung dưỡng sai phạm.

Những đại án tham nhũng là điểm rơi của sai phạm đã hình thành từ trước trong quá trình thực thi quyền lực, đặc biệt ở chuỗi thẩm định – phê duyệt – nghiệm thu. Khi trách nhiệm không được buộc đúng người, đúng khâu, sai phạm sẽ kịp chạy vòng qua cơ chế trước khi bị khóa lại.
Những năm gần đây đã ghi dấu loạt đại án gây chấn động trong y tế, tài chính – ngân hàng và đầu tư công: Việt Á, FLC, Tân Hoàng Minh, SCB – Vạn Thịnh Phát, đăng kiểm, Thuận An, Phúc Sơn… Những vụ án ấy không chỉ phơi bày những thiệt hại kinh tế, mà còn chỉ thẳng một mẫu số chung: sai phạm được ủ mầm ở các khâu có quyền lực thẩm định, diễn giải tiêu chuẩn, phê duyệt giá trị và xác nhận nghiệm thu, nơi quyền lực phân lớp sâu, nhưng trách nhiệm lại chưa bị buộc tương xứng.
Tham nhũng vì thế không ồn ào ở thủ đoạn, mà ồn ào ở hệ lụy của một cơ chế để sai phạm kịp khoác áo “đúng thủ tục” và tài sản kịp “đi đường vòng” trước khi bị chặn.
Thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng đang dần được xem là phép thử quan trọng nhất của hiệu lực. Nhưng thực tế cho thấy, trong không ít vụ việc kinh tế, đầu tư công, thu hồi vẫn có xu hướng phụ thuộc vào khả năng “khắc phục hậu quả”, thiện chí tự nguyện hoặc tiến độ tố tụng kéo dài.
Khi logic thu hồi không được thiết kế như nghĩa vụ bắt buộc kích hoạt từ lúc xuất hiện chỉ báo bất thường, tiền và tài sản sai phạm có thêm thời gian chuyển dịch, chia nhỏ hoặc khoác áo pháp lý mới trước khi cơ quan chức năng kịp phong tỏa triệt để.
Một thể chế mạnh không thể chỉ dừng ở tuyên mức án, mà phải khóa khả năng tẩu tán và hợp thức hóa tài sản sai phạm từ giai đoạn điều tra, coi thu hồi là mệnh lệnh quản trị, không phải mục tiêu phụ thuộc diễn biến tại tòa.
Trong lĩnh vực đấu thầu công, nơi dòng tiền ngân sách đổ về các hợp đồng giá trị lớn, “vùng mờ” thường xuất hiện ngay từ hồ sơ mời thầu và tổ thẩm định. Khi tiêu chí kỹ thuật có thể được soạn thảo thiên lệch, điều kiện năng lực có thể bị thiết kế để loại bỏ cạnh tranh thật, giá gói thầu có thể bị xác lập cao bất thường mà không có đối soát độc lập, và nghiệm thu khối lượng, chất lượng thiếu cơ chế kiểm chứng chéo, sai phạm có thể được hợp thức hóa trong vỏ bọc thủ tục.
Khi ấy, tiền thất thoát không bị giấu, mà bị đẩy đi nhanh hơn cơ chế thu hồi có thể đuổi bắt. Vì vậy, thu hồi tài sản phải đi trước một bước so với khả năng tẩu tán, phải sớm một nhịp so với dư luận và phải bắt buộc như một phản xạ thể chế, chứ không thể là “điểm cộng thành tích” sau bản án.
Chống tham nhũng hiệu quả không chỉ là “đánh mạnh vào cá nhân sai phạm”, mà phải là đánh trúng khâu quyền lực đã bị sai phạm chiếm dụng đầu tiên.

Trong mọi quy trình chi tiêu và cấp phép liên quan nguồn lực công, quyền lực luôn phân lớp: lớp người tham mưu soạn tiêu chí, lớp tổ tư vấn thẩm định điều kiện, lớp người có thẩm quyền phê duyệt giá, lớp đơn vị nghiệm thu xác nhận khối lượng và lớp quản lý hợp đồng, thanh quyết toán.
Nhưng nếu trách nhiệm lại không được phân lớp tương ứng, thì đó không còn là quy trình quản trị, mà là quy trình pha loãng trách nhiệm.
Nguy cơ nằm ở chỗ: quyền lực có chủ, nhưng trách nhiệm lại dễ bị vô danh trong khối tập thể. Khi sai phạm xảy ra, nó thường bị gom lại ở chữ ký cuối cùng, trong khi khâu đầu của quyền lực, nơi đã can thiệp vào tiêu chí, điều kiện và giá trị lại không bị buộc trách nhiệm cá nhân hóa tương xứng với mức độ can thiệp quyền lực.
Đó là cách “hợp thức hóa sai phạm” bằng thiết kế trách nhiệm không đối xứng, chứ không phải bằng thủ đoạn qua mặt. Nếu không thay đổi cấu trúc này, luật có thể sửa, nghị định có thể siết, nhưng sai phạm vẫn còn cửa vòng, vì đích siết không nằm ở nơi lực siết được áp dụng trước tiên.
Nhìn vào đại án ngành đăng kiểm sẽ thấy, sai phạm không bắt đầu ở văn bản, mà bắt đầu ở cách người ta vận dụng nó. Không cần thủ thuật ồn ào, chỉ cần những cái gật đầu thiếu kiểm chứng, tiêu chuẩn có thể bị uốn cong, còn hậu kiểm thì mất vai trò bảo vệ chất lượng, trở thành bình phong cho sai phạm đi vòng qua trách nhiệm.
Còn ở ngành y tế, việc thổi giá không cần đến thủ thuật phức tạp, nó chỉ cần thẩm định thiếu độc lập. Hay như lĩnh vực an toàn thực phẩm và thực phẩm chức năng, quảng cáo sai bản chất không cần đến công nghệ ẩn vết, nó chỉ cần hậu kiểm thiếu đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng, thiếu chế tài buộc thu hồi sản phẩm, buộc cải chính quảng cáo và thiếu cơ chế bóc tách trách nhiệm cá nhân theo dấu vết phê duyệt chuyên môn – điều kiện – giá trị. Khi hậu kiểm không có “người gác cửa trách nhiệm”, thì cửa trước có thể khóa, nhưng cửa sau vẫn mở.
Chống tham nhũng vì thế là cuộc chiến 3 lớp: khóa quyền lực can thiệp, buộc trách nhiệm cá nhân hóa theo dấu vết quyền lực, và thu hồi tài sản sớm – sạch – bắt buộc. Một cơ chế không cho phép sai phạm chạy nhanh hơn chế tài và tài sản chạy nhanh hơn thu hồi, đó mới là cơ chế chống tham nhũng bền vững.
Bước sang 2026, mục tiêu lớn nhất không phải là mở thêm đại án, mà là không phải mở thêm đại án. Đích đến của cuộc chiến không nằm ở hồ sơ án dày bao nhiêu, mà nằm ở hồ sơ cơ chế kín bấy nhiêu để án không còn đất tái sinh. Khi đó, công lý không cần đuổi bắt, mà đã được thiết kế để đứng sẵn ở cửa quyền lực. Và khi đó, chống tham nhũng mới thực sự là chống tương lai sai phạm, chứ không chỉ chống quá khứ sai phạm.
Đó là lúc, niềm tin xã hội không phải được kêu gọi, mà được phục hồi bằng hiệu lực bắt buộc của thể chế, điều không thể vòng vo, không thể trì hoãn, không thể vô danh. Một cuộc chiến không khoan nhượng đúng nghĩa phải là cuộc chiến khóa được quyền lực đã từng mở sai, buộc trách nhiệm đã bị “mờ”, và thu hồi tài sản trước khi nó kịp biến mất.