Tại phiên thảo luận của Diễn đàn, các chuyên gia và doanh nghiệp đã nêu nhiều kiến nghị cụ thể nhằm hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp phát triển bền vững trong bối cảnh mới.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tái cấu trúc, cạnh tranh chiến lược gia tăng và chuỗi cung ứng dịch chuyển mạnh mẽ, doanh nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới để thích ứng và bứt phá, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức “Diễn đàn doanh nghiệp 2026: Doanh nghiệp Việt Nam trên bản đồ kinh tế toàn cầu đổi mới để bứt phá” nhằm tìm kiếm những cơ hội, chia sẻ những giải pháp từ thực tiễn doanh nghiệp. Diễn đàn được tổ chức chiều ngày 24/3, tại TP HCM.

Phát biểu đề dẫn cho phiên thảo luận tại Diễn đàn, Chuyên gia kinh tế Đinh Thế Hiển, Viện IIB & VFA Group đã chỉ ra năm điểm nghẽn chiến lược mà các doanh nghiệp Việt đang phải đối mặt. Trước hết là vấn đề nguyên liệu, khi ngay cả ở những ngành thế mạnh như chế biến thực phẩm, sự liên kết giữa nhà sản xuất và người nông dân vẫn còn lỏng lẻo, nguồn cung không ổn định. Đối với các ngành công nghiệp như da giày, may mặc, Việt Nam vẫn phụ thuộc quá lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, chưa thực sự làm chủ được công nghệ nguyên liệu.

Điểm nghẽn thứ hai nằm ở sự thiếu hụt các liên kết tài chính mạnh mẽ; trong khi các tập đoàn quốc tế có hệ thống tài chính riêng để hỗ trợ chuỗi cung ứng thì ở Việt Nam, các doanh nghiệp lớn thường chiếm dụng vốn của các đơn vị cung ứng nhỏ trong thời gian dài, gây đứt gãy sự bền vững. Thêm vào đó, hạ tầng logistics và chi phí vận hành vẫn là gánh nặng. Cuối cùng, bản thân doanh nghiệp còn thiếu can đảm để đầu tư vào xây dựng thương hiệu quốc tế và phát triển sản phẩm đầu cuối do quá vất vả với các khâu sản xuất ban đầu.
Từ những điểm nghẽn trên, ông Hiển cho rằng Nhà nước không cần phải lo vốn trực tiếp quá nhiều mà nên tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, tỷ giá và lạm phát. Vai trò then chốt của Chính phủ là xây dựng các trung tâm kiểm định chất lượng uy tín để bảo vệ giá trị của dòng chữ “Made in Vietnam”, đảm bảo không có sự gian lận khiến hàng hóa bị trả về làm tổn hại uy tín quốc gia.
Song song đó, các hiệp hội phải đóng vai trò là người bảo chứng chất lượng, sao cho khi sản phẩm được dán nhãn hiệp hội, người tiêu dùng quốc tế hoàn toàn yên tâm về tiêu chuẩn sản xuất. Một khi có được hai nền tảng vững chắc từ Nhà nước và Hiệp hội, nỗ lực của Hội đồng quản trị và các CEO sẽ là yếu tố quyết định sự bứt phá của doanh nghiệp.
Phát biểu tại phiên thảo luận, Chủ tịch HUBA Nguyễn Ngọc Hòa kiến nghị Chính quyền TP HCM cần nhanh chóng cụ thể hóa các nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, điểm mấu chốt là làm sao để các nguồn lực đang nằm trong khu vực nhà nước được đẩy ra ngoài xã hội một cách mạnh mẽ hơn. Việc tổ chức lại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước theo mô hình quản trị hiện đại là một bài học kinh nghiệm quý báu để giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy sự hợp tác với khu vực tư nhân.

Ông cũng cho rằng, trong điều kiện xung đột quốc tế ngày càng phức tạp, việc đa dạng hóa nguồn cung và thị trường đầu ra là yêu cầu bắt buộc. Thay vì phụ thuộc vào một vài thị trường truyền thống, doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm các kênh nhập khẩu nguyên liệu và năng lượng thay thế từ nhiều quốc gia khác nhau. Đồng thời, khi thị trường Trung Đông có dấu hiệu co lại sức mua, việc tìm kiếm và kích cầu tại các thị trường mới sẽ giúp duy trì sự ổn định cho các đơn hàng xuất khẩu.
Bên cạnh thị trường quốc tế, việc kích cầu thị trường nội địa thông qua thúc đẩy giải ngân đầu tư công cũng được ông Nguyễn Ngọc Hòa đánh giá là một giải pháp then chốt để tạo ra sự sôi động cho nền kinh tế và công ăn việc làm cho người lao động. Ông Nguyễn Ngọc Hòa khuyến nghị các đơn vị nên tận dụng tốt các cơ hội từ Nghị quyết 98 và Nghị quyết 09 của HĐND TP HCM về chương trình hỗ trợ lãi suất cho đầu tư phát triển trong các lĩnh vực ưu tiên như lương thực thực phẩm, hóa dược, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.
Theo nhận định của ông Phan Minh Thông - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Phúc Sinh, trong điều kiện các cuộc xung đột vũ trang tại Trung Đông vẫn diễn biến phức tạp, vấn đề an ninh lương thực đang trở thành tâm điểm chú ý của toàn cầu.

Theo ông, hiện nay, phát triển bền vững không chỉ là xu hướng mà còn là yêu cầu bắt buộc để duy trì sự liên kết với hàng chục nghìn nông hộ và các hệ thống nhà máy chế biến hiện đại. Những nhà máy đạt tiêu chuẩn phát triển bền vững 100% được các tổ chức quốc tế từ Thụy Sĩ hay Đức đánh giá cao chính là “tấm vé thông hành” để nông sản Việt đi sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Điều này đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc vào con người và hệ thống quản trị. Mô hình quản trị doanh nghiệp cũng cần có sự dịch chuyển từ việc chủ doanh nghiệp trực tiếp điều hành mọi hoạt động bán hàng sang việc thuê các nhà quản lý chuyên nghiệp vận hành hệ thống. Thực tế chứng minh khi tỷ trọng doanh số trực tiếp từ chủ doanh nghiệp giảm xuống và thay thế bằng đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, doanh số tổng thể vẫn có thể tăng trưởng đều đặn ở mức 20% mỗi năm.
Theo ông, sự minh bạch tài chính cũng là một nhân tố then chốt giúp doanh nghiệp tư nhân tạo dựng niềm tin với các đối tác và quỹ đầu tư quốc tế. Việc áp dụng chế độ kiểm toán bởi các đơn vị hàng đầu thế giới (Big Four) trong suốt nhiều thập kỷ và sử dụng hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) từ sớm đã tạo ra lợi thế cạnh tranh rất lớn.
Những nền tảng quản trị vững chắc này giúp doanh nghiệp chuẩn bị hệ thống tốt hơn để đón nhận các nguồn vốn đầu tư và viện trợ không hoàn lại từ các quỹ nước ngoài, đặc biệt là từ khu vực Châu Âu. Khi hệ thống đã được chuẩn hóa và hướng tới phát triển bền vững, doanh nghiệp sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn trước các biến động thị trường và dễ dàng đa dạng hóa kênh bán hàng.
Để đối phó với các cuộc khủng hoảng, ông Thông cho rằng chiến lược then chốt vẫn nằm ở việc liên tục đầu tư vào các nhà máy chế biến sâu và thắt chặt mối liên kết với người nông dân. Việc xây dựng vùng nguyên liệu không thể tách rời khỏi các chương trình phát triển bền vững và hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp cho người trồng trọt.
Theo ông Đinh Hồng Kỳ - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Xanh TP HCM, chiến lược xanh chỉ có thể thành công khi nó được chuyển hóa thành văn hóa doanh nghiệp, lan tỏa từ cấp lãnh đạo cao nhất đến từng nhân viên và công nhân trực tiếp sản xuất.

Lộ trình thực hiện chuyển đổi xanh bền vững cần đi qua bốn bước cơ bản, bắt đầu từ việc đo lường các chỉ số hiện tại, sau đó tiến hành tối ưu hóa nhanh các nguồn lực, tiếp theo là tích hợp sâu các tiêu chuẩn ESG và cuối cùng là định vị thương hiệu xanh trên thị trường.
Ông cũng cho biết, để tạo ra sự thay đổi mang tính hệ thống, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa bốn bên bao gồm Nhà nước, các tổ chức như VCCI, các hiệp hội chuyên ngành và chính bản thân doanh nghiệp. Sự kết hợp này sẽ giúp xây dựng các tiêu chuẩn phù hợp cho từng ngành hàng cụ thể, giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tuân thủ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
"Chuyển đổi xanh mang lại bốn lợi ích cốt lõi cho sự phát triển lâu dài: giữ vững và mở rộng thị trường xuất khẩu cũng như nội địa, tăng giá trị cho sản phẩm, thu hút nguồn vốn đầu tư và giảm thiểu các rủi ro dài hạn", ông Đinh Hồng Kỳ khẳng định.
Đồng thời, ông cũng cho rằng, những đơn vị sớm bắt nhịp với chuyển đổi xanh sẽ có cơ hội định nghĩa lại luật chơi trong lĩnh vực hoạt động của mình. Đây không đơn thuần là câu chuyện về chi phí đầu tư ban đầu mà là bài toán về sự sinh tồn của doanh nghiệp Việt Nam trên bản đồ kinh tế toàn cầu.
Ông Nguyễn Đình Tùng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam; Chủ tịch Hội Sản Phẩm Nông Nghiệp Sạch TP HCM; Chủ tịch HĐQT - TGĐ Vina T&T Group cho biết ngành nông nghiệp quan trọng nhưng lại là ngành dễ tổn thương nhất trước các thay đổi. Từ thực tiễn đó, ông có một số kiến nghị.

Thứ nhất là về vốn: Người nông dân tiếp cận vốn cực kỳ khó khăn. Ngân hàng hiện vẫn vận hành theo cơ chế thế chấp: có bất động sản hoặc tài sản thì mới cho vay. Nhưng tài sản của người nông dân là cây trồng, là cánh đồng, và ngân hàng chưa coi đó là tài sản để thế chấp. Ngoài ra, các công trình phụ trợ trên đất nông nghiệp thường cũng không được công nhận là tài sản. Việc công nhận các loại tài sản này để hỗ trợ vốn cho nông dân là việc làm thiết thực nhất.
Thứ hai là về chính sách: Hiện nay, có quy định yêu cầu nông dân phải nhận tiền qua tài khoản (mức trên 5 triệu đồng chẳng hạn). Các ngân hàng ở địa phương nên kết hợp với ngành nông nghiệp xuống tận nơi hướng dẫn nông dân cách mở tài khoản, cách nhận và chuyển tiền, hoặc hướng dẫn họ chuyển đổi lên hộ cá thể. Nếu áp dụng đột ngột ngay lập tức sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc vận hành xuất khẩu.
Thứ ba là việc cấp mã số vùng trồng. Theo ông Tùng đây là trách nhiệm của Nhà nước chứ không phải của doanh nghiệp.
Thứ tư là vấn đề logistics. Ông Tùng kiến nghị Chính phủ họp với các hiệp hội và hãng tàu để tránh tình trạng thiếu container rỗng hoặc giá cước leo thang mãi như thời kỳ đại dịch trong bối cảnh hiện nay.
Đối với những doanh nghiệp đang trực tiếp bị ảnh hưởng, thậm chí là đứt gãy thị trường từ khu vực Trung Đông, ông kiến nghị ngân hàng nên có chính sách hỗ trợ cụ thể. Cần có sự hỗ trợ kịp thời về lãi suất hoặc các cơ chế khác để giúp doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn này.
Ông Phạm Văn Việt - Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Dệt may Thời trang TP HCM (AGTEK) cho biết, trong giai đoạn này, khó khăn lớn nhất mà ngành dệt may đối mặt chính là chi phí logistics đang tăng rất cao do ảnh hưởng của các cuộc xung đột. Vấn đề thứ hai là nguồn nguyên vật liệu. Hiện nay giá trung bình đã tăng từ 8% đến khoảng 18%.

"Nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng hiện hữu khi các nhà cung cấp vẫn chưa thể xác nhận ngày giao hàng cụ thể mà chỉ đưa ra thời gian dự kiến. Bên cạnh đó, thời gian giao nhận hàng hóa hiện nay đã tăng gần gấp đôi", ông Phạm Văn Việt nhận định.
Từ thực tế đó, ông kiến nghị: Thứ nhất là về nhân lực: Doanh nghiệp hiện nay đang rất thiếu lao động trình độ cao, có khả năng ứng dụng công nghệ, vận hành các dòng chảy dữ liệu và khai thác phần mềm sản xuất, marketing, bán hàng trên các nền tảng thương mại điện tử.
Thứ hai là về thương mại điện tử: Các nước bạn có lợi thế rất lớn khi vừa có sản xuất, vừa có hệ thống thương mại điện tử mạnh. Ông kiến nghị các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam nên có quy định ưu tiên tối thiểu 30% doanh nghiệp nội địa tham gia.
Thứ ba là về minh bạch thị trường. Ông Việt kiến nghị VCCI cần có công văn kiến nghị Chính phủ kiểm soát chặt chẽ hơn vấn đề này để bảo vệ doanh nghiệp trong nước.
Cuối cùng Phó Chủ tịch AGTEK mong thành phố hỗ trợ xây dựng một trung tâm thời trang, cụ thể là quỹ đất, để các doanh nghiệp có nơi phát triển thương hiệu.
Bà Lý Kim Chi - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM, Chủ tịch Hội Lương thực Thực phẩm TP HCM (FFA), nêu một số kiến nghị trọng tâm.

Một là thay đổi tư duy: Cần chuyển mạnh từ xuất khẩu "lượng" sang "chất". Ví dụ như ngành gạo, chúng ta đang chuyển dần từ gạo thô sang các loại gạo giá trị cao như ST25 và các giống gạo đặc sản khác.
Hai là hỗ trợ chế biến sâu: Muốn chế biến sâu thì phải có đất đai và công nghệ. Bà kiến nghị ngành ngân hàng cần có cơ chế hỗ trợ tín dụng dài hạn để doanh nghiệp có điều kiện đầu tư máy móc, công nghệ và mở rộng sản xuất.
Ba là đột phá về logistics. Với hơn 90% doanh nghiệp là quy mô nhỏ, nếu không có sự đột phá trong hạ tầng logistics và bảo quản thì việc vận chuyển và lưu kho sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu sản xuất và xuất khẩu.
Bốn là vai trò kiến tạo của Nhà nước. Theo bà Chi, Nhà nước cần tạo môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và đặc biệt là phải làm tốt công tác dự báo kinh tế. Nếu không có dự báo chính xác, doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình thế bị động trước các biến động toàn cầu. Ngoài ra, cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ hơn nữa.,
Năm là vai trò điều phối chuỗi giá trị: Nhà nước cần đóng vai trò kết nối doanh nghiệp với các vùng nguyên liệu và các chủ thể trong chuỗi cung ứng để hình thành các mô hình sản xuất quy mô lớn và bền vững.
Bà Nguyễn Hương Quỳnh – Phó Chủ tịch Hội Nữ doanh nhân TP HCM (HAWEE) cũng đưa ra ba đề xuất cụ thể.

Một là, hiện nay các tổ chức quốc tế rất để ý đến yếu tố bình đẳng giới trong các gói hỗ trợ, nhưng chính sách của Việt Nam vẫn chưa thể hiện rõ nét điều này. Bà kiến nghị trong các chương trình chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ cần có những ưu tiên, ưu đãi cụ thể hơn cho doanh nghiệp do nữ làm chủ.
Hai là kỳ vọng liên kết. HAWEE sẵn sàng hợp tác để các doanh nghiệp nữ có thể hưởng lợi từ các chương trình chung của các hiệp hội.
Ba là, trong "thời chiến" của kinh tế (Economic War), mỗi doanh nhân phải là một chiến binh (Warrior). Việt Nam chúng ta rất mạnh về sự đoàn kết trong thời chiến, vì vậy lúc này các doanh nghiệp lớn đã mở được cửa thị trường hãy kéo theo các doanh nghiệp nhỏ để cùng nhau chinh phục thế giới.
Ông Lưu Nguyễn Xuân Vũ – Chủ tịch Hội Doanh nhân Sài Gòn, Chủ tịch Tập đoàn Xuân Nguyên đánh giá, hiện nay, xu hướng toàn cầu đang tập trung vào ba trụ cột: số hóa, xanh hóa và đặc biệt là phát triển kinh tế tri thức. Kinh tế tri thức đóng vai trò cực kỳ quan trọng; một doanh nghiệp có tri thức nhỉnh hơn, biết quy tụ nguồn lực tốt hơn sẽ có khả năng thống lĩnh và chi phối thị trường.

Bên cạnh sản xuất truyền thống như nông nghiệp, cần tập trung mạnh mẽ vào các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Đây sẽ là động lực chính để nâng cao vị thế của Việt Nam trên thương trường quốc tế trong tương lai.
Tuy nhiên, quá trình này tại Việt Nam đang gặp 5 hạn chế cơ bản. Thứ nhất là nguồn lực tài chính của doanh nghiệp không phải ai cũng đủ sức để ứng dụng công nghệ số. Thứ hai là độ trễ trong việc thu hồi vốn khi đầu tư vào đổi mới sáng tạo thường chậm hơn các lĩnh vực khác. Thứ ba là sự thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn nhân lực có trình độ. Thứ tư là những rào cản trong việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Và cuối cùng là năng lực quản trị đổi mới sáng tạo trong chính nội tại các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.
Để giải quyết những hạn chế đã nêu, ông đưa ra bốn đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp.
Thứ nhất là hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Cần tăng cường sự liên kết chặt chẽ giữa ba nhà: Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo nguồn lực như nhà trường, viện nghiên cứu và các trường đại học. Sự liên kết này sẽ giúp chúng ta xây dựng được một hệ thống hỗ trợ nguồn lực con người một cách bài bản và bền vững.
Thứ hai là linh hoạt trong thiết kế tài chính: Các doanh nghiệp cần chủ động nghiên cứu để thiết kế các mô hình tài chính phù hợp với đặc thù của hoạt động đổi mới sáng tạo trong đơn vị mình. Đồng thời, tôi kiến nghị Chính phủ cần có sự quan tâm đặc biệt về chính sách thuế đối với những doanh nghiệp đang tiên phong áp dụng đổi mới sáng tạo, sản xuất xanh và chuyển đổi số.
Thứ ba là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Chúng ta cần sự tương tác thực chất hơn nữa giữa doanh nghiệp, nhà trường và các đơn vị giáo dục. Thông qua những diễn đàn như thế này, tiếng nói của doanh nghiệp được truyền tải rộng rãi hơn.
Thứ tư là đẩy mạnh chuyển đổi số trong khu vực công: Nếu các cơ quan hành chính nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước quyết liệt áp dụng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thì khu vực kinh tế tư nhân và thậm chí cả khu vực kinh tế phi chính thức cũng sẽ tự động chuyển mình theo. Khi đó, năng lực của doanh nghiệp sẽ tương thích tốt hơn với các chiến lược và chính sách vĩ mô của Nhà nước, giúp chúng ta vượt qua những biến động phức tạp của tình hình thế giới hiện nay.
Kết luận Diễn đàn, Phó Chủ tịch VCCI Võ Tân Thành cho biết, Diễn đàn cũng đã ghi nhận nhiều ý kiến sâu sắc, tâm huyết và có giá trị thực tiễn cao. Các tham luận đã tập trung làm rõ vai trò của nguồn lực tài chính xanh trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh; yêu cầu về đa dạng hóa thị trường; nâng cao năng lực quản trị; và tầm quan trọng của việc xây dựng hình ảnh một Việt Nam “đáng tin cậy” như một nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đặc biệt, phiên thảo luận đã mang lại nhiều góc nhìn thực tiễn từ các hiệp hội và doanh nghiệp, tập trung vào những thách thức từ biến động địa chính trị và thương mại toàn cầu. Các đại biểu cũng đã nhấn mạnh yêu cầu về chuyển đổi xanh, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, và nâng cao giá trị cho các ngành hàng chủ lực như nông sản, dệt may, thực phẩm, v.v..
Bên cạnh đó là các nội dung về phát triển công nghệ, chuyển đổi số, tham gia vào các lĩnh vực mới như bán dẫn, mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu và nâng cao vị thế cho doanh nghiệp Việt Nam. Những trao đổi này cho thấy một điểm chung rõ ràng: doanh nghiệp Việt Nam đang chuyển động một cách chủ động hơn, thực chất hơn trong quá trình hội nhập và phát triển.
Từ các ý kiến tại diễn đàn, có thể khái quát thành một số thông điệp quan trọng như sau: Thứ nhất, doanh nghiệp Việt Nam cần chuyển mạnh từ vị thế “tham gia” sang vị thế “định vị” trong chuỗi giá trị toàn cầu; Thứ hai, đổi mới không còn là một sự lựa chọn mà là điều kiện tiên quyết để tồn tại và phát triển; Thứ ba, năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp chính là nền tảng cốt lõi tạo nên năng lực cạnh tranh quốc gia; Thứ tư, thể chế và môi trường kinh doanh cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng minh bạch, ổn định và mang tính kiến tạo phát triển.
“Với vai trò là tổ chức quốc gia đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, VCCI sẽ tiếp tục tiếp thu đầy đủ các ý kiến và kiến nghị tại diễn đàn này. Chúng tôi sẽ tổng hợp và báo cáo lên Chính phủ cùng các bộ, ngành liên quan, đồng thời chủ động đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư và tăng cường các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Chúng tôi cam kết sẽ tiếp tục đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp trong suốt quá trình đổi mới và hội nhập”, Phó Chủ tịch VCCI Võ Tân Thành kết luận.