Để mở rộng không gian phát triển, nông nghiệp Việt Nam phải chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy sản lượng sang mô hình kinh tế tuần hoàn và đa tầng giá trị.

Phát biểu tại Diễn đàn Nông nghiệp 2026: “Kiến tạo không gian phát triển và động lực tăng trưởng mới cho nông nghiệp Việt Nam", do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức ngày 16/7, TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên Môi trường TP HCM đã đưa ra số liệu thống kê cho thấy thực trạng đáng suy ngẫm về vị thế của ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc gia.
Ông dẫn chứng rằng tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp trong tổng thu nhập quốc nội đang giảm dần qua các năm. Cụ thể, con số này đạt 12,34% vào năm 2024, giảm xuống còn 11,2% năm 2025 và dự kiến chỉ còn khoảng 10,38% vào năm 2026. Để đảo ngược xu hướng này, việc kiến tạo một không gian phát triển mới dựa trên tư duy kinh tế thay vì tư duy sản lượng thuần túy là yêu cầu cấp thiết.
Rào cản đầu tiên nằm ở sự thiếu linh hoạt trong quản lý đất đai và thực thi pháp luật tại địa phương. Dù Luật Đất đai đã có những quy định mở đường tại Điều 218 và Điều 93 về tích tụ ruộng đất, nhưng thực tế triển khai lại gặp rất nhiều trở ngại. TS Phạm Viết Thuận nhận định rằng các doanh nghiệp muốn phát triển mô hình nông nghiệp trên đất lúa đang đối mặt với quy trình đăng ký phức tạp tại cấp xã. Nhu cầu chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi vịt hay các loại cây trồng ngắn ngày khác tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng là rất lớn, song cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp lại chưa đủ điều kiện vận hành linh hoạt.
Thực tế cho thấy, việc phân vùng sinh thái và thiết lập không gian nông nghiệp đô thị ven đô hay nông nghiệp sinh thái vùng lõi vẫn đang mắc kẹt trong những rào cản pháp lý. TS Phạm Viết Thuận lấy ví dụ về việc nuôi tôm tại các vùng không nằm trong quy hoạch cũ, khi thay đổi chức năng quy hoạch, chính quyền địa phương lúng túng trong việc phân quyền giải quyết, dẫn đến khó khăn trong xác định thuê đất và giao đất. Việc kết hợp đất nông nghiệp với các dịch vụ đa ngành như giáo dục, du lịch và trải nghiệm ẩm thực, một xu thế đang lên để tăng giá trị gia tăng, vẫn chưa có hành lang pháp lý hoàn thiện để vận hành trơn tru.

Nguồn vốn được xem là mạch máu của sản xuất, nhưng lại đang bị tắc nghẽn bởi tư duy cho vay dựa trên tài sản thế chấp thay vì dòng tiền. TS Phạm Viết Thuận chỉ ra sự bất hợp lý trong cách định giá tài sản của hệ thống ngân hàng. Hiện nay, đất nông nghiệp tại TP HCM thường được ấn định giá khoảng 450.000 đồng/m², thấp hơn nhiều so với giá thị trường của đất thổ cư. Đáng ngại hơn, các hệ thống hạ tầng xây dựng trên đất nông nghiệp như chuồng trại chăn nuôi thường bị ngân hàng xem là “tiêu sản” và bị ép giá khi định giá tài sản thế chấp.
Hệ quả là một trang trại quy mô 14 ha với hệ thống chăn nuôi heo hiện đại cũng chỉ có thể vay được khoảng 2 tỷ đồng. TS Phạm Viết Thuận cho rằng cơ chế bảo lãnh rủi ro của Nhà nước đang thiếu vắng, khiến không ngân hàng nào dám mạnh dạn cho vay theo chuỗi giá trị hay dòng tiền sản phẩm. Ngoài ra, hạ tầng giao thông và giao vận yếu kém ở các vùng sâu, vùng xa như Đắk Nông cũng khiến các nhà đầu tư từ TP HCM hay Hà Nội e ngại vì không thể trực tiếp quản trị. Đây là sự lãng phí lớn vì những vùng đất như Đắk Nông có thổ nhưỡng cực kỳ phù hợp cho các loại cây dược liệu có giá trị kinh tế cao như xuyên tâm liên, hoàng đằng hay cây lá vằng.
Một vấn đề khác mà TS Phạm Viết Thuận nêu ra là Việt Nam đang thiếu những tập đoàn đủ lớn để làm đầu tàu dẫn dắt và định hướng thị trường toàn cầu. Tình trạng “ép giá” trong chuỗi cung ứng đang triệt tiêu động lực của người sản xuất. TS Phạm Viết Thuận dẫn chứng thực tế giá heo hơi hiện nay khoảng 63.000 đồng/kg, nhưng giá thịt heo ngoài chợ vẫn neo ở mức 160.000 đồng/kg. Người nông dân và doanh nghiệp sản xuất trực tiếp chỉ hưởng một phần nhỏ lợi nhuận, trong khi phần lớn giá trị rơi vào tay các khâu trung gian và môi giới. Nếu không có cơ chế quản lý giá và chi phí định mức từ Bộ Công Thương, người sản xuất sẽ luôn ở thế yếu trên chính mảnh vườn của mình.

Để mở rộng không gian phát triển, nông nghiệp Việt Nam phải chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế tuần hoàn và đa tầng giá trị. TS Phạm Viết Thuận nhấn mạnh rằng không được phép lãng phí bất kỳ phụ phẩm nào từ quá trình sản xuất. Ví dụ, trong chuỗi sản xuất lúa gạo, rơm rạ không còn là rác thải mà là nguyên liệu tạo nấm và phân rơm có giá trị tăng từ 57.000 đồng lên 107.000 đồng cho mỗi bao 30 kg. Trấu cũng đã được ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp khác.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng chuyển đổi số và quản lý dữ liệu giống là yếu tố then chốt để nâng tầm thương hiệu. Thái Lan hiện đã quản lý nguồn giống dựa trên phân tích Barcode DNA (giải trình tự Gen trong di truyền về giống), trong khi Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các đặc tính chưa xác định rõ gốc.
"Tình trạng thiếu minh bạch trong giống cây trồng cao cấp như trầm hương, khi người dân có thể mất 10 năm chăm sóc mới nhận ra mình trồng nhầm giống kém chất lượng. Việc thiết lập hồ sơ kỹ thuật số từ khâu gieo trồng đến logistics vận hành nhiệt độ trong quá trình vận chuyển là tiêu chuẩn bắt buộc nếu muốn thâm nhập các thị trường khó tính và đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050", TS Phạm Viết Thuận nhấn mạnh.
Đồng thời, TS Phạm Viết Thuận đưa ra những đề xuất nhằm khơi thông dòng chảy cho nông nghiệp. Thứ nhất, cần thay đổi căn bản tư duy tín dụng, chuyển từ thế chấp tài sản sang sử dụng hàng hóa và sản phẩm nông nghiệp làm cơ sở xác định nguồn vốn vay. Thứ hai, các cơ quan chức năng, đặc biệt là Bộ Công thương, cần thiết lập cơ chế quản lý giá để bảo vệ người sản xuất, tránh tình trạng thao túng của các đơn vị trung gian.
Cuối cùng, mô hình kinh tế tập thể và hợp tác xã cần được chú trọng đầu tư bài bản vì đây là chủ thể có lợi thế hơn doanh nghiệp tư nhân trong việc tích tụ đất đai và tiếp cận các gói tín dụng xanh từ các tổ chức quốc tế.
"Chỉ khi giải quyết đồng bộ các vấn đề về giống, dữ liệu số hóa và liên kết chuỗi bền vững, nông nghiệp Việt Nam mới thực sự tạo ra được không gian phát triển xứng tầm với vị thế cốt lõi của mình", TS Phạm Viết Thuận nhấn mạnh.