Chính trị - Xã hội

Doanh nghiệp là trung tâm của quá trình thực thi chính sách khoa học, công nghệ

Lê Hà 15/08/2026 09:14

Chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được thiết kế và thực thi như thế nào để doanh nghiệp có khả năng tiếp cận, hấp thụ, làm chủ và đưa công nghệ vào sản xuất, quản trị.

Đó là khẳng định của ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia tại Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia 2026.

Trong giai đoạn phát triển mới, dư địa bền vững phải đến từ năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới phương thức quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và sử dụng hiệu quả hơn mọi nguồn lực.

Tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu chuyển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành động lực trực tiếp của phát triển. Chính vì vậy, vai trò của khoa học và công nghệ, mà quan trọng hơn là làm rõ cơ chế để tri thức, công nghệ và các nguồn lực hỗ trợ đi được vào doanh nghiệp; để doanh nghiệp có thể hấp thụ, làm chủ, đổi mới công nghệ và để kết quả của chính sách được đo bằng mức tăng năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.

305-202608141931421.jpg
Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia

Đồng quan điểm, GS TS Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore cho biết, hiện nay, có 7 xu thế đang định hình chính sách khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên mới.

Các xu thế này bao gồm: AI là hạ tầng năng suất mới; Chuyển đổi mô hình quản lý từ R&D sang hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; Từ năng lực đổi mới sáng tạo sang giải pháp vượt qua thách thức dựa trên đổi mới sáng tạo; AI - DX - GX trở thành tâm điểm của đổi mới sáng tạo; Mô hình 3 nhà (Nhà nước - Viện/trường - Doanh nghiệp) sang hệ sinh thái mở; Chính phủ từ vai trò cấp ngân sách nghiên cứu và quản lý dự án thành nhà kiến tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo; Từ đổi mới cục bộ sang lan tỏa khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất toàn nền kinh tế.

305-202608141931422.jpg
GS TS Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore

Theo số liệu được trình bày từ Ngân hàng thế giới, tốc độ tăng trưởng năng suất bình quân của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2022 là 0,9%, trong khi tổng đầu tư/GDP đạt 32%. Nếu chỉ dựa vào tăng năng suất, Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng năng suất hằng năm cao hơn nhiều so với mức 2% đến năm 2030 để đạt mục tiêu thu nhập cao.

Tuy vậy, Giám đốc điều hành Công ty Vriens & Partners Việt Nam Võ Thị Lan Phương cũng chia sẻ, hiện nay, có 6 loại chính sách có nguy cơ làm giảm năng suất. Đó là chính sách tạo chi phí tuân thủ quá lớn; Chính sách làm hạn chế cạnh tranh; Chính sách làm cản trở đổi mới sáng tạo; Chính sách làm gia tăng rủi ro; chính sách tạo "bẫy quy mô" và chính sách bảo hộ.

Điều này khiến cho doanh nghiệp tốn thời gian, tài chính, phát sinh tư vấn và thủ tục, phải điều chỉnh kế hoạch, hệ thống, đầu tư; giảm nguồn lực cho đổi mới và mở rộng sản xuất. Từ đó, thiếu động lực giảm giá, nâng chất lượng và đổi mới. Các doanh nghiệp mới, công nghệ mới khó gia nhập, chi phí đầu vào tăng. Có nhiều trường hợp, do những ảnh hưởng từ chính sách, doanh nghiệp chỉ cố gắng giữ doanh thu, lao động hoặc tài sản dưới ngưỡng.

Để khắc phục những vấn đề này, Giám đốc điều hành Công ty Vriens & Partners Việt Nam Võ Thị Lan Phương cho rằng, các cơ quan quản lý cần có những thay đổi lớn trong chính sách. Có thể kể đến như quản lý theo rủi ro, chuyển tiền kiểm sang hậu kiểm khi phù hợp. Loại bỏ yêu cầu trùng lặp, bảo đảm thời gian chuyển tiếp hợp lý.

Chính sách cũng chỉ hạn chế cạnh tranh khi thực sự cần, bỏ quota không cần thiết, bảo đảm trung lập cạnh tranh, chuyển từ điều kiện đầu vào sang quản lý theo rủi ro và kết quả. Chính sách cũng không nên cấm cái mới chỉ vì chưa có quy định, quản lý theo kết quả, tạo sandbox, bảo đảm trung lập công nghệ và nguyên tắc tương đương…

Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia Nguyễn Nam Hải cho biết, có 3 vấn đề chính cần được quan tâm:

Thứ nhất, mục tiêu cuối cùng của chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải là kết quả phát triển có thể đo lường. Hiệu quả chính sách không chỉ thể hiện ở số lượng nhiệm vụ, chương trình hay nguồn lực đã bố trí, mà phải được phản ánh bằng năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh thực tế.

Thứ hai, doanh nghiệp phải là trung tâm của quá trình thực thi chính sách. Khoa học và công nghệ chỉ tạo ra năng suất khi doanh nghiệp có khả năng tiếp cận, hấp thụ, làm chủ và đưa công nghệ vào sản xuất, quản trị. Vì vậy, chính sách cần giải quyết đồng thời các điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học.

Thứ ba, cần hình thành một vòng phản hồi chính sách thường xuyên giữa cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp. Những mô hình hiệu quả phải được đánh giá, nhân rộng; những quy định không còn phù hợp phải được nhận diện và điều chỉnh kịp thời. Chất lượng thể chế được thể hiện ở tốc độ đưa chính sách vào cuộc sống và khả năng tạo ra kết quả thực chất.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Doanh nghiệp là trung tâm của quá trình thực thi chính sách khoa học, công nghệ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO