Trước yêu cầu thị trường, doanh nghiệp xuất khẩu cà phê đang tìm cách chuyển sang chế biến sâu để từng bước vươn lên các phân khúc giá trị cao hơn trong chuỗi toàn cầu.
Việt Nam là nước đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nói chung và số 1 thế giới về Robusta nhưng chủ yếu vẫn là xuất khẩu thô. Nếu Việt Nam tiếp tục xuất thô là chủ yếu, chúng ta sẽ tiếp tục đứng ở phần đầu chuỗi về khối lượng, trong khi phần dày nhất của giá trị vẫn nằm ở các khâu chế biến sâu và tiêu dùng cuối.

Theo ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli, có một nghịch lý khiến nhiều người bất ngờ hơn khi Thụy Sĩ là nước không hề trồng cây cà phê nào nhưng lại có doanh số từ cà phê cực lớn và bán cà phê cho khắp thế giới trong khi Việt Nam xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới nhưng chủ yếu là nguyên liệu thô. Xuất khẩu thành phẩm rất ít.
"Đây là điều rất thiệt thòi cho các vùng nguyên liệu như Việt Nam", ông nhấn mạnh.
Chỉ ra những khó khăn của doanh nghiệp khi khó chuyển đổi chế biến sâu, ông Nguyễn Thành Tài, Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam cho rằng, những nút thắt khiến doanh nghiệp khó đi vào chế biến sâu gồm, thứ nhất là nguyên liệu chưa đủ đồng đều. Không thể có chế biến sâu bền vững nếu vùng nguyên liệu không được chuẩn hóa từ giống, chăm sóc, thu hoạch đến sơ chế.
Thứ hai là chi phí đầu tư lớn: Nhà máy chế biến sâu đòi hỏi vốn cho thiết bị, môi trường, năng lượng, phòng kiểm nghiệm và hệ dữ liệu.
Thứ ba là tiêu chuẩn và pháp lý cho các dòng sản phẩm mới như cascara (dùng nguyên liệu vỏ cà phê), chiết xuất, nguyên liệu pha chế vẫn chưa thực sự đầy đủ. Thứ tư là áp lực tuân thủ quốc tế, đặc biệt ở truy xuất vùng trồng và dữ liệu chuỗi lưu chuyển.
Bên cạnh đó, chi phí vốn lưu động cũng là rào cản lớn. Cơ chế thuế giá trị gia tăng theo hướng thu trước - hoàn sau trong nhiều thời điểm tạo áp lực dòng tiền rất mạnh, khiến doanh nghiệp ngại đầu tư vào mô hình chế biến sâu, nơi cần vốn trung và dài hạn lớn hơn nhiều so với thương mại nguyên liệu.

Đồng quan điểm, ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân hàng đầu Việt Nam, thách thức lớn nhất của ngành cà phê hiện nay là làm sao để thoát khỏi "bẫy xuất khẩu thô" và xây dựng một thương hiệu nông nghiệp bền vững.
Ông cho biết Công ty TNHH Vĩnh Hiệp đã có kế hoạch thoát "bẫy" này bằng 5 dự án trọng điểm có tổng vốn đầu tư 710 triệu USD. Trong đó, có dự án nhà máy sản xuất chế biến công nghệ cao sấy lạnh và sấy phun, nhằm tạo ra sản phẩm ở phân khúc cao cấp với công suất 18.000 tấn/năm.
Dự án nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ phụ phẩm cà phê (công suất 25.000 tấn/năm) sẽ tái tạo nguồn dinh dưỡng cho đất, giúp giảm chi phí đầu vào cho nông dân và bảo đảm tiêu chuẩn "Cà phê sạch" cho các thị trường khó tính như EU và Mỹ.
Các chuyên gia nhận định, Việt Nam đang thực hiện một bước chuyển mình lịch sử, trở thành tác nhân chủ động dẫn dắt các sáng kiến quốc tế, định vị lại chuỗi giá trị và dẫn lối cho tương lai bền vững của ngành càphê toàn cầu.
TS Phạm S, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhận định, khi thế giới ngày càng ưa chuộng các sản phẩm thân thiện với môi trường, sự khan hiếm của diện tích canh tác hữu cơ hiện tại chính là cơ hội vàng cho các quốc gia có chiến lược đi tắt đón đầu.
Đối với những quốc gia còn vướng mắc về năng suất và phương thức canh tác, TS Phạm S khẳng định tiềm năng phát triển vẫn còn rất lớn nếu có sự can thiệp kịp thời về cải thiện giống cây và kỹ thuật. Đặc biệt, vai trò của hợp tác khu vực trong việc chuyển giao công nghệ và quy hoạch vùng trồng sẽ là "chìa khóa" giúp các quốc gia khắc phục triệt để những hạn chế hiện tại.