Tài chính doanh nghiệp

Gia tăng sự phân hóa tín nhiệm giữa các nhóm ngành

An Định • 21/10/2026 04:08

Nguồn vốn và dòng tiền đang trở thành 2 "từ khóa" hết sức quan trọng với sự ổn định và tín nhiệm của doanh nghiệp, đặc biệt nhìn từ góc độ doanh nghiệp là tổ chức phát hành trái phiếu.

Theo đánh giá của công ty xếp hạng tín nhiệm VIS Rating, nguồn vốn thắt chặt và áp lực dòng tiền làm gia tăng sự phân hóa tín nhiệm.

Theo đó, chi phí hoạt động tăng và nguồn vốn thắt chặt sẽ làm suy yếu môi trường tín nhiệm đối với các ngân hàng và doanh nghiệp Việt Nam trong 12 tháng tới, so với môi trường tín nhiệm ổn định mà các nhà phân tích đã dự báo trong nửa đầu năm 2026.

Dòng tiền chịu áp lực

Áp lực trả nợ và tái cấp vốn sẽ gia tăng mạnh nhất đối với các doanh nghiệp với dòng tiền yếu và các kênh huy động vốn hạn chế. Trong đó, các doanh nghiệp bất động sản nhà ở gặp khó khăn là một trong những nhóm rủi ro nhất, trong khi các doanh nghiệp liên quan đến hạ tầng, các doanh nghiệp tiêu dùng nội địa quy mô lớn, cùng các ngân hàng quy mô lớn và ngân hàng quốc doanh có khả năng chống chịu tương đối tốt hơn.

Vay tiêu dùng thấu chi trên tài khoản thanh toán được đánh giá là khoản vay an toàn. (Ảnh minh họa)
Các ngân hàng quy mô lớn và ngân hàng quốc doanh có khả năng chống chịu tương đối tốt hơn. (Ảnh minh họa)

Tín dụng ngân hàng và trái phiếu sẽ ngày càng ưu tiên các tổ chức phát hành có hồ sơ tín nhiệm mạnh; các cải cách về minh bạch thông tin không hoàn toàn tháo gỡ các hạn chế tái cấp vốn của các doanh nghiệp có tín nhiệm yếu.

Chi phí gia tăng và nguồn vốn bị thắt chặt cũng làm suy yếu khả năng trả nợ. Giá bán lẻ nhiên liệu trong nước tăng 19%-52% so với cùng kỳ (svck) trong bối cảnh xung đột và bất ổn tiếp diễn tại Trung Đông. Cập nhật thêm đến 20/10, mức giá hiện tại của hợp đồng tương lai dầu Brent là 109,56USD/ thùng, giá đóng cửa trước đó là 109,55 USD/thùng, cho thấy dù có giảm nhẹ nhưng giá dầu vẫn neo rất cao.

Chỉ số giá hàng hóa trong nước đã tăng trong tháng 8 lên 4,5%, tiếp tục vào tháng 9 tăng 0,62% so với tháng trước, tăng 4,20% so với tháng 12 năm 2025 và tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 9 tháng năm 2026, CPI tăng 4,52% và lạm phát cơ bản tăng 4,26% so với cùng kỳ. Động lực tăng giá chủ yếu đến từ nhóm giao thông (tăng 3,97%) và nhóm giáo dục (tăng 1,41%).

Chi phí tăng làm suy giảm dòng tiền trả nợ, trong khi lạm phát hạn chế dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ.Việc Mỹ có khả năng áp thêm thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam là rủi ro bất lợi đối với một số nhóm doanh nghiệp xuất khẩu, theo VIS Rating.

Bên cạnh đó, tăng trưởng tín dụng tiếp tục cao hơn tăng trưởng huy động tiền gửi, làm gia tăng cạnh tranh trong huy động. Chúng tôi dự báo lãi suất cho vay sẽ duy trì ở mức cao trong thời gian tới. Chi phí lãi vay tăng làm giảm khả năng trả nợ, trong khi ngân hàng cho vay chọn lọc hơn sẽ phần nào hạn chế nguồn tái cấp vốn và tài trợ vốn lưu động cho các doanh nghiệp bất động sản có hồ sơ tín nhiệm yếu, các doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ và các doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính.

Tuy nhiên, dự báo của VIS Rating với các dữ liệu là cơ sở để xem xét, lưu ý diễn ra trước 18/10, trước khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5% cho kỳ hạn từ 6 tháng trở lên và giảm lãi suất cho vay 1,5%-2% đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, ưu tiên.

Phân hóa tín nhiệm theo nhóm ngành

Phân tích về triển vọng tín nhiệm doanh nghiệp, ông Phan Duy Hưng, CFA, MBA, Giám đốc cấp cao - Ban Định Chế Tài Chính VIS Rating cho biết, dòng tiền ổn định và khả năng huy động vốn tạo nên sự khác biệt giữa các tổ chức phát hành.

Đầu tư công hỗ trợ các doanh nghiệp liên quan đến hạ tầng. Giải ngân đầu tư công trong 7 tháng 2026 đạt 16,3 tỷ USD, tăng 20% svck (và vẫn đang được thúc đẩy trong cuối quý III), hỗ trợ các nhà thầu xây dựng, các doanh nghiệp hạ tầng và một số doanh nghiệp dịch vụ dầu khí. Các nhà thầu quy mô lớn ghi nhận tăng trưởng doanh thu mạnh hơn các nhà thầu quy mô nhỏ.

"Việc cải thiện hồ sơ tín nhiệm phụ thuộc vào việc chuyển hóa tăng trưởng doanh thu thành dòng tiền", ông Phan Duy Hưng nhấn mạnh.

Với nhóm các doanh nghiệp tiêu dùng nội địa quy mô lớn, theo phân tích, sẽ có khả năng chống chịu tương đối tốt, nhờ tăng trưởng tiêu dùng bán lẻ, khả năng dự báo doanh thu cao và mức độ biến động lợi nhuận thấp.

Các ngân hàng lớn và ngân hàng quốc doanh sẽ duy trì nguồn vốn, thanh khoản và chất lượng tài sản ổn định hơn so với các ngân hàng quy mô nhỏ, nhờ nền tảng tiền gửi vững chắc, danh mục cho vay đa dạng và tiêu chuẩn cấp tín dụng thận trọng. Đây là yếu tố giúp các ngân hàng này ứng phó với chi phí vốn gia tăng và rủi ro từ phía khách hàng vay.

Đáng chú ý, các ngân hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh và dư nợ lớn đối với các doanh nghiệp bất động sản nhà ở chịu áp lực lớn hơn về chất lượng tài sản. Tăng trưởng cho vay cũng làm tăng nhu cầu vốn, trong khi chi phí vay cao hơn làm suy yếu khả năng trả nợ của khách hàng. Việc phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường có thể làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn và rủi ro tái cấp vốn.

Các doanh nghiệp xuất khẩu quy mô nhỏ đối mặt với khả năng tạo tiền yếu hơn và hạn chế về kênh huy động vốn thay thế.

Các doanh nghiệp dệt may, da giày và sản phẩm gỗ chịu ảnh hưởng bởi nhu cầu bất định, nguy cơ gia tăng hàng rào thuế quan từ Mỹ, cùng chi phí năng lượng và vận tải ở mức cao. Khả năng chuyển chi phí thấp và đa dạng hóa thị trường hạn chế khiến các doanh nghiệp nhỏ dễ tổn thương hơn trước các biến động của thị trường.

Các hãng hàng không cũng chịu áp lực từ chi phí nhiên liệu cao, VIS Rating nhận định.

Bất động sản chịu rủi ro tái cấp vốn cao

Trong các nhóm ngành doanh nghiệp, chuyên gia cho rằng các doanh nghiệp bất động sản nhà ở gặp khó khăn đối mặt với rủi ro tái cấp vốn cao nhất. Doanh số bán hàng suy yếu và chi phí lãi vay tăng làm hạn chế khả năng trả nợ của các doanh nghiệp bất động sản. Số lượng giao dịch trên toàn quốc trong quý II/2026 giảm 36% svck; tỷ lệ hấp thụ căn hộ sơ cấp tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh giảm xuống 73%, từ mức 95% năm 2025.

Trong khi dư nợ của nhóm doanh nghiệp BĐS tăng lên mức cao nhất 15 quý, các tổ chức phát hành cũng đang cố gắng thu xếp để hoàn trả tiền mặt với các khoản trái phiếu doanh nghiệp đến hạn và đã chậm trả trước đó. (Ảnh minh họa: ITN)
Nhóm tổ chức phát hành là doanh nghiệp bất động sản rủi ro tái cấp vốn cao nhất. (Ảnh minh họa: ITN)

Bên cạnh đó, doanh nghiêp bất động sản còn chịu tác động từ những chậm trễ trong việc triển khai dự án ảnh hưởng tới tiến độ bán hàng và bàn giao.

"Rủi ro tập trung ở nhóm doanh nghiệp bất động sản có dự án chậm triển khai do vướng mắc pháp lý, dòng tiền hoạt động yếu, phụ thuộc vào thị trường thứ cấp và tái cấp vốn thông qua kênh trái phiếu. Áp lực thanh khoản gia tăng khi lượng lớn trái phiếu sẽ đáo hạn trong thời gian tới, trong khi các tổ chức phát hành đã từng chậm trả, gia hạn trái phiếu, hoặc có quan hệ tín dụng với ngân hàng hạn chế có thể gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn tái cấp vốn. Ngược lại, các doanh nghiệp có các dự án đang triển khai, tiến độ bàn giao rõ ràng và quan hệ vững chắc với ngân hàng sẽ có khả năng tiếp cận tín dụng tốt hơn, chuyên gia nêu.

Cuối cùng, chuyên gia đánh giá, các cải cách thị trường trái phiếu, bao gồm quy định mới về phát hành ra công chúng và phát hành riêng lẻ giúp nâng cao chuẩn mực phát hành, cải thiện công bố thông tin và tăng cường bảo vệ nhà đầu tư, nhưng không giải quyết được hạn chế về nguồn tái cấp vốn. Nhu cầu từ nhà đầu tư tổ chức vẫn hạn chế do các công ty bảo hiểm bị giới hạn đầu tư vào trái phiếu phát hành để cơ cấu nợ, còn Quỹ Bảo hiểm Xã hội Việt Nam chủ yếu đầu tư vào trái phiếu Chính phủ và trái phiếu do ngân hàng quốc doanh phát hành. Thanh khoản trên thị trường thứ cấp hạn chế và việc thiếu đường cong lợi suất dựa trên giao dịch thực tế tiếp tục thu hẹp kênh huy động vốn của các tổ chức phát hành yếu.

VIS Rating cho rằng các yếu tố thay đổi đánh giá trên sẽ xảy ra khi: Áp lực sẽ giảm bớt nếu chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động thu hẹp, chi phí vốn giảm và dòng tiền kinh doanh cải thiện. Với doanh nghiệp bất động sản, doanh số cải thiện, vướng mắc pháp lý được tháo gỡ và tiến độ bàn giao rõ ràng hơn sẽ củng cố nguồn trả nợ. Với nhà thầu, việc đẩy nhanh đầu tư công chỉ hỗ trợ tín nhiệm nếu giúp cải thiện khả năng thu tiền.

Ngược lại, rủi ro trả nợ và tái cấp vốn sẽ tăng nếu huy động tiền gửi tiếp tục yếu, chi phí hoạt động hoặc chi phí tài chính tăng, hoặc điều kiện xuất khẩu xấu đi. Dự án tiếp tục chậm trễ và tiến độ thanh toán chậm đối với các khoản nợ đã gia hạn sẽ khiến các doanh nghiệp bất động sản yếu càng dễ tổn thương.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Gia tăng sự phân hóa tín nhiệm giữa các nhóm ngành
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO