Trong bối cảnh Việt Nam đang trong giai đoạn chuẩn bị then chốt để chính thức vận hành thị trường các-bon, việc nắm bắt năng lực thực thi và tâm lý thị trường của các doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng…
Theo đó, để có cái nhìn đa chiều về thị trường các-bon trước thời điểm chính thức vận hành, sáng nay 17/6/2026, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Tọa đàm “Mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp tham gia trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon trên Sàn giao dịch các-bon trong nước”.

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI cho biết, việc vận hành sàn giao dịch tín chỉ các-bon trong nước là một vấn đề rất mang tính kỹ thuật, nhưng cũng rất quan trọng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp nằm trong danh sách phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính hiện nay.
Theo ông Tuấn, buổi Tọa đàm được diễn ra trong thời điểm rất đặc biệt, sát ngày khai trương sàn giao dịch các-bon Việt Nam.

“Đây không phải là câu chuyện của tương lai chúng ta thường nói, mà đây là câu chuyện của những ngày sắp tới. Thị trường các-bon đánh dấu lần đầu tiên tại Việt Nam, lượng phát thải khí nhà kính trở thành một thứ hàng hóa có giá, có thể trao đổi, và vì thế có thể trở thành một biến số rất quan trọng trong bài toán tài chính và chiến lược của doanh nghiệp”, ông Tuấn chia sẻ.
Đồng thời, ông Tuấn cho hay, trong thời gian vừa qua, về phía Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã có những bước chuẩn bị rất bài bản và công phu, để doanh nghiệp bước vào “sân chơi” này với khung pháp lý tương đối đầy đủ...
Cũng theo ông Tuấn, Luật Bảo vệ môi trường 2020 tại Điều 139, được cụ thể hóa bằng Nghị định 06/2022/NĐ-CP và sửa đổi bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP, gần đây nhất là Nghị định 29/2026/NĐ-CP quy định riêng về sàn giao dịch các-bon trong nước…

“Như vậy, hạ tầng pháp lý và hạ tầng kỹ thuật đã sẵn sàng. Câu hỏi còn lại là các doanh nghiệp đã sẵn sàng tới đâu? Chúng tôi thấy rằng, đây vừa là nghĩa vụ tuân thủ, vừa là cơ hội. Nếu mà doanh nghiệp hiểu rõ, hiểu sớm về chi phí và giá các-bon thì sẽ chủ động trong các chiến lược đầu tư. Còn doanh nghiệp đi sau thì tất nhiên sẽ bị thụ động về tài chính và khả năng cạnh tranh”, ông Tuấn bày tỏ.
Đồng thời cho hay, chúng ta đang trong bối cảnh phải đối mặt với những yếu tố cạnh tranh quốc tế, cho nên, đối với những ngành hàng có xuất khẩu như sắt thép hay xi măng, việc làm quen với định giá các-bon trong nước cũng chính là sự chuẩn bị rất quan trọng đối với cơ chế điều chỉnh biên giới các-bon CBAM của thị trường nhập khẩu lớn như là EU.
Chia sẻ về những vấn đề liên quan đến khoảng cách giữa nhận thức và năng lực thực thi, ông Tuấn cho rằng, nhu cầu được hướng dẫn, đào tạo và nâng cao năng lực là một nhu cầu cấp thiết và chính đáng. Đặc biệt, với một lĩnh vực mới và quan trọng như thị trường các-bon, chúng ta không thể để doanh nghiệp tự mình mày mò và bơi trên thị trường.
“Chính vì vậy, buổi Tọa đàm hôm nay, chúng tôi hướng tới mục tiêu đánh giá thực tế xem doanh nghiệp đang sẵn sàng tới đâu, kỳ vọng gì về giá và còn vướng ở đâu. Và cũng mong rằng, các doanh nghiệp sẽ có những chia sẻ thẳng thắn về vấn đề này, để cùng thảo luận và đưa ra lộ trình hỗ trợ, đào tạo, cũng như giúp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục xem xét xây dựng, hoàn thiện các nội dung pháp lý trong thời gian tới”, ông Tuấn bày tỏ.

Tại Tọa đàm, đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chia sẻ về các nội dung liên quan đến toàn cảnh công tác chuẩn bị của cơ quan quản lý Nhà nước, trong đó nhấn mạnh lộ trình pháp lý và các cơ chế hỗ trợ kỹ thuật dành cho doanh nghiệp trước thềm chính thức tham gia trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính trên Sàn giao dịch các-bon trong nước.
Đại diện Công ty Cổ phần Tư vấn Năng lượng và Môi trường (VNEEC) trình bày các nội dung chính của khảo sát và kết quả phân tích, tổng hợp về khoảng giá tham chiếu, trên cơ sở tổng hợp kỳ vọng của 110 cơ sở phát thải lớn được phân bổ hạn ngạch và đối chiếu với chi phí giảm phát thải biên theo Cam kết quốc gia tự quyết định về khí hậu (NDC) của Việt Nam cùng kinh nghiệm quốc tế, mức 5–10 USD/tấn CO2 tương đương là khoảng giá tham chiếu phù hợp cho các giao dịch đầu tiên trên thị trường.
Theo đại diện VNEEC, đây là mức giá tương đồng với giá khởi điểm của một số sàn giao dịch các-bon quốc tế. Đáng chú ý, đa số doanh nghiệp ủng hộ cơ chế giá có kiểm soát bao gồm mức giá sàn, giá trần và quỹ dự trữ ổn định thị trường cho thấy, nhu cầu vận hành có giám sát trong giai đoạn đầu thay vì để thị trường hoàn toàn tự điều tiết.


Về mức độ sẵn sàng, cũng theo đại diện VNEEC, các cơ sở đã hình thành nhận thức và kế hoạch chuẩn bị, song năng lực triển khai thực tế còn hạn chế. Phần lớn ưu tiên chiến lược giảm phát thải nội bộ hơn là tham gia giao dịch trên sàn, trong khi số cơ sở dự báo thiếu hạn ngạch gần gấp đôi số cơ sở có thể dư bán. Do vậy, có nguy cơ thanh khoản thấp trên sàn giao dịch các-bon trong giai đoạn thí điểm. Chi phí đầu tư cao, thiếu nguồn nhân lực có kinh nghiệm và thiếu hướng dẫn từ cơ quan quản lý được doanh nghiệp xác định là ba trở ngại hàng đầu để tham gia thị trường các-bon và tuân thủ mục tiêu giảm phát thải.
Nhu cầu đào tạo hiện tập trung vào các nội dung kỹ thuật nền tảng và đang chuyển dần sang vận hành thị trường, quản trị tài chính carbon và chuyển đổi số.
Cùng với các vấn đề đã nêu, tại Tọa đàm, đại diện doanh nghiệp và các bên liên quan đã trao đổi trực tiếp về những vướng mắc thực tiễn, kỳ vọng chính sách và các đề xuất hỗ trợ cần thiết trước thềm thị trường chính thức vận hành.
Được biết, nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn cho các cơ quan quản lý, VCCI phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu triển khai khảo sát chuyên sâu đối với các cơ sở phát thải lớn thuộc danh sách thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính theo Quyết định số 699/QĐ-BNNMT ngày 27/02/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bao gồm các cơ sở trong lĩnh vực nhiệt điện, sản xuất sắt thép và sản xuất xi măng. VNEEC đảm nhận vai trò đơn vị hỗ trợ kỹ thuật, trực tiếp xử lý và phân tích toàn bộ dữ liệu thu thập được.
Khảo sát tập trung vào các nội dung chính gồm: kỳ vọng về giá và thị trường; năng lực quản trị và mức độ chuẩn bị nội bộ của doanh nghiệp; và nhu cầu hỗ trợ để thực hiện nghĩa vụ tuân thủ.
Kết quả khảo sát là cơ sở thực tiễn giúp cơ quan quản lý đánh giá năng lực và mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp, từ đó hoàn thiện chính sách vận hành thị trường carbon phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, cũng là nguồn thông tin tham chiếu có giá trị để doanh nghiệp định hướng tham gia giao dịch sớm trên thị trường với chi phí tuân thủ tối ưu và chủ động xây dựng lộ trình đầu tư giảm phát thải, tích hợp chi phí carbon vào chiến lược tài chính dài hạn.