Theo VCCI, đề xuất giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu được cộng đồng doanh nghiệp ủng hộ, tuy nhiên, cần có đánh giá tổng thể, cơ chế linh hoạt và giải pháp đồng bộ hơn.
Trả lời Công văn số 3501/BTC-CST ngày 23/3/2026 của Bộ Tài chính đề nghị góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thuế bảo vệ môi trường (BVMT) đối với xăng, dầu (Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, việc ban hành Nghị quyết là cần thiết và cấp bách trong bối cảnh hiện nay.

Theo VCCI, từ đầu tháng 3/2026, xung đột quân sự tại Trung Đông đã gây gián đoạn nghiêm trọng chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu, đẩy giá dầu thế giới tăng mạnh và nhanh chóng lan tỏa tới thị trường trong nước. Giá xăng dầu liên tục tăng cao qua nhiều kỳ điều hành, có thời điểm tăng trên 30% so với trước khi xảy ra xung đột, dù Quỹ bình ổn giá đã được sử dụng ở mức lớn.
Trong bối cảnh đó, việc giảm thuế BVMT đối với xăng, dầu được đánh giá là giải pháp tài khóa trực tiếp, có tác động nhanh, góp phần ổn định thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng, giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ người dân trước áp lực chi phí sinh hoạt gia tăng.
Đây cũng là một trong những công cụ góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng năm 2026. VCCI cũng cho rằng, việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng và ban hành Nghị quyết là phù hợp với yêu cầu cấp bách của thực tiễn.
Đối với mức thuế đề xuất, Dự thảo đưa ra phương án giảm thuế BVMT xuống mức sàn của khung thuế hiện hành, với xăng là 1.000 đồng/lít và dầu diesel là 500 đồng/lít. VCCI đánh giá đây là phương án hợp lý trong phạm vi thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, theo tính toán của Bộ Tài chính, mức giảm này chỉ giúp hạ giá bán lẻ xăng khoảng 1.080 đồng/lít và dầu diesel khoảng 540 đồng/lít, được xem là còn khiêm tốn so với biên độ tăng giá thực tế trong thời gian qua.
Do đó, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo cần bổ sung đánh giá tổng thể về hiệu quả phối hợp giữa việc giảm thuế BVMT với các công cụ điều hành khác như Quỹ bình ổn giá, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế nhập khẩu, nhằm giúp cộng đồng doanh nghiệp và người dân có cái nhìn đầy đủ hơn về mức độ hỗ trợ thực tế của chính sách.
Đáng chú ý, trong trường hợp xung đột tiếp tục leo thang, đẩy giá dầu vượt ngưỡng cao, dư địa giảm thuế trong khung hiện hành sẽ không còn. Trước kịch bản này, VCCI kiến nghị cơ quan soạn thảo cần chủ động xây dựng phương án dự phòng, bao gồm khả năng trình Quốc hội điều chỉnh khung thuế BVMT, đặc biệt là mức sàn, nhằm tránh bị động trong điều hành và duy trì hiệu quả chính sách.
Liên quan đến thời hạn áp dụng, Dự thảo quy định hiệu lực đến hết ngày 30/6/2026 và giao Chính phủ thẩm quyền điều chỉnh thời hạn. VCCI ủng hộ hướng tiếp cận này vì tạo dư địa linh hoạt trong điều hành chính sách. Tuy nhiên, để đảm bảo tính minh bạch và khả năng dự báo, cần quy định rõ hơn các tiêu chí làm căn cứ gia hạn hoặc chấm dứt chính sách, chẳng hạn như ngưỡng giá dầu thô Brent hoặc mức biến động giá cơ sở xăng dầu trong nước. Đồng thời, cần xác định giới hạn cụ thể về thời gian gia hạn để tránh tình trạng kéo dài không xác định, ảnh hưởng đến kỷ luật tài khóa và công tác lập dự toán ngân sách.
Một vấn đề khác được VCCI đặc biệt lưu ý là hiệu quả truyền dẫn của chính sách. Do thuế BVMT là thuế gián thu cấu thành trong giá bán, việc giảm thuế không phải lúc nào cũng được phản ánh đầy đủ vào giá bán lẻ cuối cùng. Từ thực tiễn các lần điều chỉnh trước, VCCI cho rằng cần tăng cường giám sát việc điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu tương ứng với mức giảm thuế, đồng thời công khai, minh bạch cơ cấu giá trước và sau khi áp dụng chính sách để người dân và doanh nghiệp có thể theo dõi, giám sát.

Về tác động ngân sách, việc giảm thuế BVMT dự kiến làm giảm thu ngân sách nhà nước khoảng 1.790 tỷ đồng mỗi tháng. Theo VCCI, đây là mức có thể chấp nhận trong ngắn hạn, đặc biệt trong bối cảnh nguồn thu từ dầu thô tăng có thể bù đắp một phần. Tuy nhiên, cần đánh giá kỹ hơn tác động đến ngân sách địa phương, bởi đây là khoản thu có phân chia và nhiều địa phương phụ thuộc đáng kể. Do đó, cần có phương án hỗ trợ cân đối phù hợp cho các địa phương bị ảnh hưởng lớn.
Ngoài ra, Dự thảo hiện chưa đưa dầu hỏa vào phạm vi điều chỉnh. Trong khi đó, đây là mặt hàng thiết yếu đối với người dân ở khu vực nông thôn, miền núi, là nhóm dễ bị tổn thương nhất trước biến động giá năng lượng. VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc bổ sung dầu hỏa vào phạm vi điều chỉnh hoặc có giải trình rõ ràng về việc loại trừ.