Đà Nẵng có vị trí địa chiến lược, hạ tầng giao thông - logistics đa phương thức, mạng lưới đường đô thị tương đối hoàn chỉnh,...tạo động lực phát triển không gian đô thị.

Thành phố Đà Nẵng sau sát nhập có diện tích là 11.859,59 km2, dân số là 3.065.628 người, trở thành thành phố có diện tích tự nhiên lớn nhất trong số các thành phố trực thuộc Trung ương, có nhiều lợi thế để tiếp tục phát triển bức phá trong giai đoạn mới.
Một trong những điểm mạnh được xem là lợi thế nổi trội là Đà Nẵng có vị trí địa chiến lược, hạ tầng giao thông - logistics đa phương thức bao gồm cảng biển, sân bay, hệ thống đường bộ và đường sắt quốc gia, cùng với mạng lưới đường đô thị đã phát triển tương đối hoàn chỉnh.

Đà Nẵng cần khai thác lợi thế này để tận dụng cơ hội từ cơ chế đặc thù trong các chính sách của Trung ương, dòng vốn đầu tư hạ tầng và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng, thúc đẩy và định hình phát triển không gian đô thị. Không gian phát triển mới cho Đà Nẵng phải thể hiện được vai trò là cực tăng trưởng quan trọng và là trung tâm phát triển của khu vực miền Trung và Tây Nguyên, bảo đảm tăng tính liên kết, hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau giữa các ngành kinh tế và hạn chế thấp nhất các xung đột phát triển giữa các ngành, đồng thời bảo đảm tính kết nối không gian vùng với các địa phương trong vùng Trung bộ và Tây nguyên và rộng hơn là với cả nước và quốc tế
Phát triển hệ thống giao thông và logistic đô thị hiện đại giúp Đà Nẵng giải quyết được nhiều vấn đề trong phát triển kinh tế xã hội, nâng tầm vị thế của Đà Nẵng.
Trước hết, việc phát triển giao thông đô thị và logistic được xem là yếu tố quyết định sự thành công của quá trình chuyển đổi tư duy phát triển thành phố từ đơn cực sang đa cực, đa trung tâm nhằm phát huy lợi thế có sẵn về tiềm năng của hệ thống đô thị hiện hữu như Hải Châu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Điện Bàn, Hội An, Tam kỳ, đăc điểm phát triển kinh tế xã hội từng khu vực như các khu vưc phát triển du lịch thương mại ở phía Đông Bắc, khu vực phát triển công nghiệp ở phía Đông Nam, khu vực phát triển nông nghiệp ở phía Tây.
Thứ hai, phát triển giao thông đô thị hiệu quả giúp rút ngắn thời gian di chuyển của người dân và người lao động, tạo điều kiện phân bố lại dân cư và việc làm theo hướng hợp lý, trong khi logistics hiện đại làm giảm chi phí vận chuyển, tăng khả năng kết nối thị trường và thúc đẩy hình thành các cực phát triển mới. Phát triển hệ thống giao thông góp phần hiện thực hóa mong muốn cải thiện sự chênh lệch phát triển giữa các khu vực phía Đông và phía Tây thành phố, cải thiện mật độ dân cư tại các khu vực bị quá tải về hạ tầng.

Với khoảng cách trung bình là 100 km từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam, hệ thống giao thông cần bảo đảm rút ngắn thời gian di chuyển từ 4-5 giờ như hiện nay xuống còn dưới 2 giờ, cùng với hệ thống dịch vụ vận tải chất lượng 5 sao. Đối với khu vực đô thị đã phát triển như khu vực Hải Châu, Thanh Khê, hệ thống giao thông cần giải quyết được tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường thông qua chuyển đổi sang hệ thống giao thông công cộng.
Thứ ba, tạo ra khung sườn trong tổ chức không gian đô thị. Mạng lưới giao thông không chỉ là huyết mạch cho sự phát triển mà còn tạo ra các hành lang kinh tế trong cấu trúc tổ chức không gian đô thị gồm các cực, trục và nút, nhờ đó sự phát triển đô thị có tính lan tỏa.
Với định hướng tổ chức không gian kinh tế của thành phố theo ba vùng chức năng : vùng công nghiệp - dịch vụ ven biển phía Đông, vùng nông nghiệp và lâm nghiệp trung du và vùng núi phía Tây và vùng không gian biển, hải đảo. Hệ thống giao thông cần nâng cấp, mở rộng nhằm đáp ứng yêu cầu về luân chuyển hàng hóa, kết nối nhằm tạo ra các hành lang kinh tế Bắc - Nam, Đông - Tây theo các trục kinh tế dọc Quốc lộ 1A, cao tốc Bắc - Nam, đường ven biển và đường sắt Bắc Nam, đường Đông Trường Sơn và đường Hồ Chí Minh; kết nối không gian với khu vực miền núi và trung du theo các trục kinh tế quốc lộ 14D, 14E và 40B.
Thứ tư, định hình phát triển cho hệ thống đô thị. Thành phố Đà Nẵng cần tiếp tục duy trì vị thế của đô thị loại I hướng tới trở thành đô thị đặc biệt là trung tâm của vùng kinh tế Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Theo Nghị quyết 111 về phân loại đô thị Đà Nẵng cần có 50% số phường đạt tiêu chí đô thị loại II ( khoảng 12 phường), có hệ thống giao thông công cộng phủ kín 100% phường loại II. Phát triển mạng lưới giao thông và logistic không chỉ đảm bảo yêu cầu về phủ kín giao thông công cộng mà còn giúp các đô thị như Hội An, Tam Kỳ, Điện Bàn tiếp tục duy trì được chất lượng đô thị đã được công nhận, đồng thời tạo ra các cơ hội để các xã có điều kiện phát triển thành các đô thị khi nằm tại các đầu mối giao thông, các cực kinh tế như khu công nghiệp.
Thứ năm, phát triển giao thông giúp Đà Nẵng mở rộng không gian phát triển ra bên ngoài địa giới hành chính. Với mục tiêu xây dựng Đà Nẵng trở thành một cực tăng trưởng, bên cạnh đóng góp vào tăng trưởng chung của cả nước, kinh tế Đà Nẵng còn phải đóng vai trò dẫn dắt chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong vùng dựa trên nền kinh tế tri thức và có hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của toàn bộ khu vực. Và hệ thống hạ tầng kết nối cũng sẽ đảm bảo để Đà Nẵng thực hiện được sứ mệnh quan trọng này.
Nhằm phát huy những lợi thế về diện tích và dân số, về vị trí địa chính trị, đồng thời khắc phục sự phát triển mất cân đối giữa các khu vực về kinh tế, văn hóa. Thành phố Đà Nẵng cần tập trung phát triển hệ thống giao thông và logistic theo hướng:
Một là, quy hoạch và phát triển mạng lưới giao thông đường bộ đồng bộ, hiện đại, đúng tiêu chuẩn và được kết nối hoàn chỉnh dựa trên nền tảng chuyển đổi số. Phát triển hệ thống đường bộ bao gồm xây dựng mới hệ thống cao tốc vành đai, nâng cấp mở rộng các trục quốc lộ kết nối Đông - Tây như 14D, 14B, 14G, 14H, 40B, 24C thành đường cao tốc, kết nối với mạng lưới đường quốc gia, kết nối các cụm đô thị Đà Nẵng – Hội An – Điện Bàn – Thăng Bình – Tam Kỳ - Núi Thành và kết nối thông suốt giữa Khu kinh tế mở Chu Lai với Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Nam Giang và khu vực Tây Nguyên, với các nước theo hành lang quốc tế Đông – Tây.
Phát triển hệ thống đường đô thị gồm nâng cấp, mở rộng hệ thống đường nội thị gắn kết các hành lang kinh tế, khu kinh tế. Phát triển các tuyến đường có tính kết nối liên xã để nâng cấp thành các tuyến đường đô thị. Hệ thống công trình đường bộ được xây dựng theo tiêu chuẩn giao thông hiện đại.
Hai là, quy hoạch và xây dựng hệ thống đường sắt đô thị, hệ thống vận tải khối lớn, kết nối cảng : Liên Chiểu – Tiên Sa – Kỳ Hà, sân bay : Đà Nẵng – Chu Lai, các cụm đô thị ven biển và các khu công nghiệp, kết hợp xây dựng các khu đô thị tập trung tại các đầu mối giao thông.
Ba là, quy hoạch và phát triển hạ tầng logistics đa phương thức gắn với cảng biển, sân bay; hạ tầng số, hạ tầng khoa học - công nghệ và hạ tầng xanh. Tổ chức hệ thống logistic theo mô hình đa tầng, đa chức năng bao gồm logistic liên vùng và quốc tế gắn với cảng biển Liên Chiểu, Tiên Sa, Kỳ Hà và sân bay Đà Nẵng, Chu Lai; logistics đô thị phục vụ việc phân phối hàng hóa trong đô thị tại các khu vực phường Liên Chiểu, phường Bàn Thạch, phường Hải Vân, xã Bà Nà; logistics chuyên ngành tại các khu công nghiệp tại các xã Nam Giang, xã Bà Nà, xã Tiên Phước, xã Đại Lộc, xã Thăng Bình.
Tóm lại, khi được quy hoạch và đầu tư đồng bộ, giao thông và logistics không chỉ mở rộng không gian đô thị theo chiều sâu, mà còn góp phần tái cấu trúc không gian hiện hữu, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng cường vai trò của đô thị như một động lực phát triển kinh tế – xã hội trong dài hạn. Thành phố Đà Nẵng hôm nay đang đứng trước cơ hội lịch sử để trở thành một cực tăng trưởng mới của Việt Nam, một đô thị động lực ở khu vực miền Trung và là đô thị kiểu mẫu của Châu Á. Tận dụng tốt cơ hội, có giải pháp hợp lý sẽ giúp thành phố Đà Nẵng nhanh chóng bứt phá trong kỷ nguyên mới.