Nghiên cứu - Trao đổi

Hiện thực hóa Nghị quyết 253/2025

Yến Nhung 03/03/2026 04:30

Để đưa những nội dung chính sách trong Nghị quyết 253/2025/QH15 vào thực tiễn, theo chuyên gia, cần một hệ thống thực thi quyết liệt, minh bạch và đủ năng lực vận hành trong dài hạn.

Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tăng cao, áp lực chuyển dịch xanh ngày càng lớn và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng trở nên cấp thiết, việc Quốc hội ban hành Nghị quyết 253/2025/QH15 (Nghị quyết 253) được xem là dấu mốc quan trọng về thể chế. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia nhấn mạnh, khung chính sách dù tiến bộ đến đâu cũng chỉ là điểm khởi đầu; hiệu quả thực chất phụ thuộc vào cách triển khai trên thực tế.

Song để Nghị quyết đi vào cuộc sống, bài toán niềm tin thể chế vẫn là thách thức then chốt - Ảnh: ITN
Nghị quyết 253 như một “khung đường ray” quan trọng - Ảnh: ITN

Theo TS Ngô Đức Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), Nghị quyết 253 như một “khung đường ray” quan trọng. Nhưng để đoàn tàu năng lượng vận hành trơn tru, đạt tốc độ và đúng hướng, cần bảo đảm ít nhất bốn yếu tố then chốt.

Trước hết là sự đồng bộ và nhất quán trong hệ thống văn bản dưới luật. Sau khi Nghị quyết được ban hành, Chính phủ và các bộ, ngành cần nhanh chóng cụ thể hóa bằng nghị định, thông tư và các cơ chế hướng dẫn rõ ràng, tránh tình trạng “chờ đợi văn bản” khiến dự án đình trệ.

Thứ hai là cải cách thủ tục hành chính thực chất, đi kèm phân cấp, phân quyền rõ ràng. Nghị quyết đã mở đường cho việc rút ngắn quy trình và trao thêm thẩm quyền cho địa phương. Tuy nhiên, điều quan trọng là xác định rành mạch trách nhiệm, quyền hạn và cơ chế phối hợp giữa Trung ương – địa phương – doanh nghiệp. Nếu phân quyền nhưng thiếu cơ chế giám sát minh bạch hoặc còn chồng chéo thẩm quyền, các dự án lớn như điện gió ngoài khơi, LNG vẫn có nguy cơ kéo dài tiến độ.

Thứ ba là bảo đảm tính minh bạch và ổn định của cơ chế giá điện, cũng như thị trường điện cạnh tranh. Theo TS Ngô Đức Lâm, nhà đầu tư chỉ yên tâm rót vốn dài hạn khi có thể dự báo được dòng tiền và khung chính sách trong 10–20 năm. Vì vậy, vận hành giá điện theo tín hiệu thị trường cần đi đôi với cam kết ổn định chính sách, hạn chế thay đổi đột ngột gây rủi ro pháp lý và tài chính.

Thứ tư là nâng cao năng lực điều hành và quản trị hệ thống năng lượng. Khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng cao, yêu cầu về vận hành hệ thống điện thông minh, dự báo phụ tải, lưu trữ năng lượng và điều độ linh hoạt trở nên phức tạp hơn nhiều. Nếu không đầu tư tương xứng cho công nghệ, nhân lực và quản trị hiện đại, mục tiêu chuyển dịch xanh có thể vô tình tạo áp lực ngược lên hệ thống điện.

Cuối cùng, yếu tố nền tảng vẫn là tính quyết liệt và trách nhiệm trong thực thi. Khi các cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp cùng nhận thức rõ vai trò của năng lượng đối với an ninh quốc gia và tăng trưởng dài hạn, đồng thời hành động trên tinh thần minh bạch, trách nhiệm giải trình cao, Nghị quyết 253 mới thực sự trở thành động lực phát triển cho giai đoạn mới.

Nhấn mạnh Nghị quyết 253 là bước đột phá rất lớn đối với ngành năng lượng, TS Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng điểm mới đáng chú ý là vai trò chủ động của Quốc hội trong việc thiết kế khung chính sách.

Trước đây, trên cơ sở các nghị quyết của Bộ Chính trị, Chính phủ xây dựng, điều chỉnh các bộ luật; Quốc hội chủ yếu tham gia ở giai đoạn phê duyệt, thông qua dự thảo do Chính phủ trình. Tuy nhiên, lần này Quốc hội đã trực tiếp tham gia xây dựng khung chính sách, đóng vai trò “kim chỉ nam” để các bộ, ngành điều chỉnh luật theo yêu cầu của Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết 253 của Quốc hội.

“Với tinh thần của Nghị quyết 253, chúng ta được phép triển khai song song việc sửa đổi các bộ luật. Trong thời gian chờ đợi các bộ luật được sửa đổi, Chính phủ sẽ ban hành một nghị quyết để quán triệt tinh thần của Nghị quyết 253. Điều này có thể tháo gỡ nhiều vướng mắc hiện nay, đồng thời tránh lặp lại những điểm nghẽn trong các dự án tương lai”, ông Thập kỳ vọng.

Theo ông, trong thời gian tới, các Ủy ban của Quốc hội sẽ tiếp tục rà soát quá trình triển khai, xem xét bổ sung những nội dung cần thiết. Việc bổ sung có thể thực hiện thông qua sửa đổi các bộ luật liên quan hoặc bằng các nghị quyết của Chính phủ trên tinh thần quán triệt đầy đủ chủ trương của Quốc hội. Phạm vi điều chỉnh vì vậy có thể được mở rộng hợp lý, không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ Nghị quyết 253.

dam-vung-chac-an-ninh-nang-luong-quoc-gia-tien-de-quan-trong-de-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-17542999479091214279501-1760505338260965735457.jpeg
Theo chuyên gia, cần một hệ thống thực thi quyết liệt, minh bạch và đủ năng lực vận hành trong dài hạn để Nghị quyết 253/2025/QH15 đi vào thực tiễn - Ảnh: ITN

Từ góc nhìn dài hạn, TS Nguyễn Quốc Thập cho rằng, trong thời gian tới, nếu đã xác định năng lượng là trụ cột của an ninh kinh tế, Quốc hội cần xem xét ban hành một nghị quyết chuyên đề về khung cơ chế, chính sách dành riêng cho các doanh nghiệp năng lượng, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước. Đây sẽ là cơ sở để Chính phủ xây dựng điều lệ tổ chức, cơ chế tài chính và mô hình quản trị phù hợp với đặc thù ngành.

Bên cạnh các giải pháp về thể chế, ông cũng nhấn mạnh yêu cầu đột phá về tư duy trong quá trình triển khai. Chuyển dịch năng lượng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật hay vốn đầu tư, mà còn là thay đổi cách tiếp cận trong hoạch định chính sách, quản trị rủi ro và phân bổ nguồn lực.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Hiện thực hóa Nghị quyết 253/2025
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO