Vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục duy trì xu hướng tích cực, trong đó FDI chất lượng cao góp phần hiện thực mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Tiếp đà tăng trưởng từ đầu năm, đến cuối tháng 7, vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước. Con số này phản ánh niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 7 tháng của năm, vốn đăng ký có 2.429 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 21,05 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và gấp 2,1 lần về số vốn đăng ký. Bên cạnh đó, vốn đăng ký điều chỉnh có 666 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 10,43 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 1.815 lượt với tổng giá trị góp vốn 6,58 tỷ USD, tăng 61,6% so với cùng kỳ năm trước.
Về nguồn vốn FDI thực hiện tại Việt Nam trong 7 tháng qua ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 7 tháng trong 5 năm qua. Trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo đạt 12,55 tỷ USD, chiếm 82,6% tổng vốn FDI thực hiện.
Trong bối cảnh thế giới ngày càng tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất định, cạnh tranh thu hút FDI trong khu vực, nhất là cạnh tranh thu hút các dự án đầu tư công nghệ cao ngày càng gia tăng. Kết quả thu hút FDI những tháng vừa qua tại ghi nhận tăng trưởng tích cực, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Đồng thời, khẳng định điểm đến đầu tư trong xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu diễn ra mạnh mẽ.
Để nâng cao hiệu quả thu hút dòng vốn FDI, trong đó tập trung thu hút vốn chất lượng cao, theo Bộ Tài chính, trong thời gian tới, việc tiếp tục rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định và nâng cao tính dự báo được ưu tiên thực hiện. Trong đó, chuyển mạnh từ ưu đãi thuế sang cơ chế hỗ trợ đầu tư dựa trên chi phí thực tế như hạ tầng, nhân lực, R&D và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư, đất đai, xây dựng và môi trường theo hướng liên thông, rút ngắn thời gian xử lý, đặc biệt với các dự án công nghệ cao, bán dẫn, năng lượng và trung tâm dữ liệu. Những dự án có quy mô lớn, công nghệ cao được xem xét cắt giảm các thủ tục cấp giấy phép lao động và thị thực cho chuyên gia nước ngoài. Đây là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và quản trị của nền kinh tế.
Một trọng tâm lớn khác cũng được quan tâm đầu tư là hệ thống hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng giao thông, năng lượng và logistics, gắn với các hành lang kinh tế - công nghiệp trọng điểm. Qua đó tạo không gian thu hút FDI quy mô lớn và tập trung, giảm chi phí vận tải và nâng cao khả năng kết nối chuỗi cung ứng.
Trong đầu tư hạ tầng, hạ tầng năng lượng hướng tới bảo đảm khả năng cung ứng điện ổn định và dài hạn cho các ngành công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và công nghiệp bán dẫn. Cùng với đó, đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo gắn với yêu cầu chuyển dịch xanh của các tập đoàn đa quốc gia, phù hợp xu thế đầu tư bền vững.
Tình trạng thiếu hụt lao động kỹ thuật cao được tập trung giải quyết thông qua tăng cường gắn kết cơ sở đào tạo và doanh nghiệp FDI, triển khai cơ chế đặt hàng đào tạo theo nhu cầu ngành, tập trung vào các lĩnh vực bán dẫn, công nghệ thông tin, điện tử và AI…