Nút thắt lớn nhất khiến nhiều doanh nghiệp Việt Nam đánh mất thời cơ vàng trên trường quốc tế chính là tốc độ và sự linh hoạt trong thủ tục phê duyệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI).

Diễn đàn Doanh nghiệp đã có cuộc trao đổi với ông Đỗ Nguyễn Hồng Linh (Robert Linh) – Giám đốc Vietnam Industry Zone (VIZ), Chuyên gia nghiên cứu đầu tư quốc tế, xung quanh vấn đề này.
Đây thực sự là một bài toán khốc liệt trên trường quốc tế. Khi bước ra biển lớn với tiềm lực tài chính có hạn, doanh nghiệp Việt Nam tuyệt đối không thể áp dụng tư duy phiêu lưu. Từng có nhiều năm công tác trong ngành dầu khí, một lĩnh vực thâm dụng vốn và đầy rủi ro, tôi nhận thấy chìa khóa cốt lõi nằm ở việc xác định rõ giới hạn tổn thất tối đa ngay từ đầu. Doanh nghiệp chỉ nên trích một tỷ lệ vốn nhất định mà nếu có mất đi cũng không làm lung lay dòng tiền cốt lõi tại thị trường chính.
Bên cạnh đó, thay vì đơn độc khai phá, chúng ta phải chủ động xây dựng liên minh chiến lược với các đối tác bản địa hoặc bắt tay với các tập đoàn đa quốc gia nhằm chia sẻ rủi ro pháp lý và thị trường. Việc chấp nhận trả giá để học hỏi là cần thiết, nhưng quản trị thông minh là phải biết cách sai ở quy mô nhỏ để tích lũy kinh nghiệm cho những thắng lợi lớn hơn.
Tôi cho rằng, OFDI trong các ngành công nghệ cao không phải là một nghịch lý, mà chính là chiến lược đi tắt đón đầu để hấp thụ công nghệ lõi một cách nhanh nhất. Thay vì tự mày mò nghiên cứu từ con số không tại thị trường nội địa, các doanh nghiệp Việt Nam có thể chủ động tiến hành các thương vụ M&A những công ty công nghệ quy mô vừa và nhỏ tại các quốc gia phát triển. Đây là những nơi sở hữu sẵn bằng sáng chế và bí quyết kỹ thuật nhưng lại thiếu không gian tăng trưởng hoặc nguồn lực vận hành tối ưu. Bằng cách thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển ngay tại các thung lũng công nghệ toàn cầu, chúng ta có thể thu hút trực tiếp chất xám của nhân tài quốc tế.
Khi đã làm chủ được các mắt xích giá trị này ở nước ngoài, doanh nghiệp sẽ thực hiện quá trình chuyển giao công nghệ ngược về nước để nâng cấp toàn bộ hệ sinh thái sản xuất trong nước.

Tôi cho rằng, rào cản lớn nhất khiến nhiều doanh nghiệp Việt Nam đánh mất thời cơ vàng trên trường quốc tế chính là tốc độ và sự linh hoạt trong thủ tục phê duyệt đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là quy định quản lý ngoại hối. Các cơ hội thâu tóm tài sản công nghệ hay M&A toàn cầu diễn ra vô cùng nhanh chóng và đôi khi chỉ quyết định trong vài tuần. Nếu quy trình xin cấp phép của chúng ta kéo dài nhiều tháng, doanh nghiệp sẽ tự đánh mất lợi thế cạnh tranh của mình.
Để giải quyết triệt để, tôi cho rằng Nhà nước cần mạnh dạn chuyển dịch tư duy quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp. Những đơn vị có lịch sử tuân thủ pháp luật tốt và chứng minh được nguồn vốn tự có lành mạnh nên được áp dụng cơ chế phê duyệt tự động hoặc rút gọn, đồng thời kết hợp với các công cụ bảo lãnh quốc tế để họ vững tâm khai phá thị trường mới.
Một nền kinh tế mạnh thực sự không chỉ được đo bằng việc thu hút được bao nhiêu dòng vốn FDI hay gia công được bao nhiêu hàng hóa. Thước đo vị thế quốc gia nằm ở năng lực xuất khẩu vốn, công nghệ và thương hiệu ra toàn cầu.
Để chứng minh chiến lược OFDI đi đúng hướng, tôi cho rằng chỉ số định lượng cốt lõi đầu tiên phải là tỷ lệ đóng góp của nguồn thu nhập từ nước ngoài vào tổng thu nhập quốc gia (GNI), tức là dòng lợi nhuận và tiền bản quyền công nghệ phải chảy ngược về làm giàu cho đất nước. Chỉ số thứ hai là số lượng các tập đoàn đa quốc gia gốc Việt tạo được chỗ đứng vững chắc và dẫn dắt các mắt xích lớn trong chuỗi cung ứng khu vực ở các ngành mũi nhọn.
Khi nguồn thu từ các dự án nước ngoài tạo ra bước bứt phá mạnh mẽ cho tổng thu nhập quốc gia, đó mới là lúc chúng ta hiện thực hóa được không gian sinh tồn và phát triển mới của kinh tế Việt Nam.
- Trân trọng cảm ơn ông!