Kinh tế

Khơi thông vốn cho đổi mới sáng tạo

Ngọc Diễm 03/06/2026 03:40

Từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo”, Nghị quyết 57-NQ/TW được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý để dòng vốn chảy mạnh vào công nghệ và tài sản trí tuệ.

von dn

Trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo, các trường đại học và viện nghiên cứu ngày càng được kỳ vọng không chỉ là nơi tạo ra tri thức mà còn đóng vai trò chủ động trong việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.

Ba phương diện cốt lõi

Theo kế hoạch đề ra, năm 2026, TP Hà Nội phấn đấu hình thành mới tối thiểu 20 doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) hình thành từ kết quả nghiên cứu của trường, viện; giai đoạn 2027 - 2030, hàng năm hình thành mới 5-10 loại hình doanh nghiệp này.

PGS TS Đỗ Hương Lan, Trường Đại học Tài chính – Marketing, cho biết trong thời gian dài, quản lý khoa học và công nghệ tại Việt Nam chủ yếu vận hành theo mô hình hành chính, với trọng tâm là kiểm soát quy trình, quản lý chặt chẽ đầu vào và bảo toàn tài sản công. Cách tiếp cận này phù hợp trong bối cảnh nguồn lực hạn chế và yêu cầu bảo đảm kỷ luật tài chính, nhưng đồng thời làm giảm tính linh hoạt, hạn chế khả năng thử nghiệm và cản trở quá trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế.

Đến nay, những thay đổi theo Nghị Quyết 57- NQ/TW và hệ thống các luật mới đã đặt nền móng cho sự chuyển đổi căn bản sang tư duy “kiến tạo phát triển”. Theo đó, Nhà nước không còn đóng vai trò chủ yếu là cơ quan kiểm soát, mà chuyển sang thiết kế thể chế, tạo lập môi trường thuận lợi và dẫn dắt các chủ thể tham gia hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Sự chuyển đổi này thể hiện ở ba phương diện cốt lõi. Thứ nhất, chuyển từ quản lý theo quá trình sang quản lý theo kết quả, trong đó sản phẩm, công nghệ và doanh nghiệp trở thành tiêu chí đánh giá trung tâm. Thứ hai, chuyển từ tư duy hạn chế rủi ro sang chấp nhận rủi ro có kiểm soát, thừa nhận tính không chắc chắn của hoạt động đổi mới sáng tạo. Thứ ba, chuyển từ mô hình “Nhà nước làm thay” sang “Nhà nước kiến tạo - thị trường dẫn dắt”, trong đó doanh nghiệp và các chủ thể xã hội giữ vai trò trung tâm.

“Đối với mô hình doanh nghiệp khởi nguồn, sự chuyển đổi này mang ý nghĩa nền tảng. Khởi nguồn là hình thức tổ chức có mức độ thử nghiệm cao, đòi hỏi linh hoạt thể chế và khả năng chấp nhận thất bại. Nếu duy trì tư duy quản lý hành chính truyền thống, mô hình này khó có thể hình thành và phát triển. Ngược lại, tư duy kiến tạo mở ra không gian thể chế cần thiết để các ý tưởng công nghệ được thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa thông qua doanh nghiệp”, PGS TS Đỗ Hương Lan nhấn mạnh.

khoa-hoc-cong-nghe20260518170222.jpg
TP Hà Nội phấn đấu hình thành mới tối thiểu 20 doanh nghiệp khởi nguồn từ kết quả nghiên cứu của trường, viện; giai đoạn 2027 - 2030.

Cửa ngõ thu hút vốn

Các quy định về định giá, góp vốn và chuyển nhượng tài sản trí tuệ còn thiếu rõ ràng, làm gia tăng rủi ro pháp lý và tâm lý e ngại của các chủ thể tham gia. Nếu được tháo gỡ, đây sẽ là cửa ngõ thu hút vốn đối với các doanh nghiệp công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Ông Phạm Tuấn Hiệp, Giám đốc đầu tư BK Holdings cho rằng các trường đại học công lập hiện nay có thể tham gia thành lập hoặc góp vốn vào doanh nghiệp với nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ ba loại doanh nghiệp: doanh nghiệp thương mại hóa kết quả nghiên cứu, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, và doanh nghiệp quản lý tài sản trí tuệ hoặc vốn đầu tư.

Hiện nay, khung pháp lý cho doanh nghiệp khởi nguồn trong các trường đại học công lập đang dần được hoàn thiện thông qua nhiều luật liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Giáo dục đại học, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ và các quy định về quản lý tài sản công.

Đáng chú ý, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2025 cùng các nghị định hướng dẫn đã bước đầu tháo gỡ khó khăn trong việc khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ. Bên cạnh đó, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đang phối hợp với Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính để xây dựng cơ chế cho phép sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản góp vốn hoặc thế chấp vay vốn ngân hàng.

Theo PGS TS Đỗ Hương Lan trong bối cảnh mới, tư duy “tài sản hóa tri thức” được hình thành, coi tri thức, công nghệ và tài sản trí tuệ là nguồn lực kinh tế có thể định giá, giao dịch và khai thác để tạo ra giá trị gia tăng. Hệ thống pháp luật từng bước cho phép định giá kết quả nghiên cứu, sử dụng tài sản trí tuệ để góp vốn và trao quyền tự chủ cho tổ chức trong lựa chọn phương thức thương mại hóa.

Sự chuyển dịch này mang ý nghĩa cấu trúc đối với mô hình khởi nguồn. Trước hết, nó tạo cơ sở pháp lý để chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành vốn góp, là yếu tố cốt lõi trong cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp. Đồng thời, cho phép thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích giữa viện, trường, nhà khoa học và nhà đầu tư, qua đó tạo động lực tham gia. Bên cạnh đó, nó góp phần hình thành thị trường công nghệ, nơi tài sản trí tuệ được giao dịch theo nguyên tắc thị trường.

Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra yêu cầu về năng lực thực thi và cơ chế hỗ trợ. Việc định giá tài sản trí tuệ cần có phương pháp và tổ chức chuyên nghiệp; cơ chế phân chia lợi ích cần minh bạch và ổn định; đồng thời phải có công cụ giám sát phù hợp để bảo đảm không thất thoát tài sản công. Vì vậy, tài sản hóa tri thức không chỉ là thay đổi quan điểm, mà đòi hỏi hoàn thiện đồng bộ các thiết chế thị trường liên quan.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Khơi thông vốn cho đổi mới sáng tạo
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO