Hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, khi mục tiêu không chỉ dừng ở việc tạo ra những ý tưởng và doanh nghiệp mới, mà còn là giúp startup trưởng thành và vươn ra thị trường quốc tế.

Một startup có thể được sinh ra từ một ý tưởng của người Việt, được xây dựng bởi đội ngũ kỹ sư Việt Nam, phát triển sản phẩm tại Việt Nam nhưng khi bước vào giai đoạn tăng trưởng lại lựa chọn một pháp nhân ở nước ngoài để gọi vốn, quản trị tài sản trí tuệ và tiếp cận thị trường quốc tế.
Câu chuyện của Sky Mavis do Nguyễn Thành Trung cùng các đồng sáng lập xây dựng, với pháp nhân tại Singapore. Điều đáng quan tâm không nằm ở việc một doanh nghiệp “đi đâu”, mà ở câu hỏi rộng hơn: vì sao một startup Việt khi lớn lên lại có thể cần một “địa chỉ” khác với nơi nó được sinh ra?
Báo cáo Chỉ số Hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu 2026 của StartupBlink cho thấy Việt Nam tăng 5 bậc, lên vị trí thứ 50 toàn cầu. Trong khi đó, theo Vietnam Innovation and Private Capital Report 2026, vốn đầu tư mạo hiểm vào Việt Nam năm 2025 đạt 509 triệu USD, tăng 28%, trong khi tổng vốn tư nhân đạt khoảng 4,5 tỷ USD qua 149 thương vụ.
Những con số ấy cho thấy Việt Nam không còn ở giai đoạn phải chứng minh rằng mình có thể tạo ra startup. Bài toán mới là làm thế nào để những startup có tiềm năng đi tiếp được từ giai đoạn khởi nghiệp sang giai đoạn trưởng thành, từ một sản phẩm tốt thành một doanh nghiệp toàn cầu.
Trong nhiều năm, câu chuyện hỗ trợ khởi nghiệp thường xoay quanh không gian làm việc, cuộc thi, chương trình ươm tạo, cố vấn và vốn ban đầu. Những yếu tố đó vẫn cần thiết, nhưng với một startup đã có sản phẩm, khách hàng và tham vọng quốc tế, nhu cầu đã thay đổi hoàn toàn.
Theo các chuyên gia, startup công nghệ cần vốn lớn hơn, cấu trúc cổ đông phù hợp, khả năng bảo vệ và định giá tài sản trí tuệ, nhân sự quốc tế, thị trường thử nghiệm, cơ chế quản trị và một hệ thống pháp lý đủ linh hoạt để doanh nghiệp có thể tăng trưởng nhanh.
Ông Kailash Raghuwanshi, chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm (Ấn Độ), nhận định: “Các startup công nghệ Việt không thể chỉ dựa vào thị trường nội địa như ở Indonesia, mà cần hướng ra thế giới ngay từ đầu. Để làm được điều đó, Việt Nam cần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc gọi vốn quốc tế và thu hút nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm”.
Đây cũng là lý do chính sách khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam đang được đặt lại theo hướng chú trọng chiều sâu. Theo Quyết định 3789/QĐ-BKHCN ngày 15/9/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt Chương trình quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo giai đoạn 2026-2035, chuyển trọng tâm từ hỗ trợ phong trào sang kết quả thực chất, lấy chất lượng doanh nghiệp, khả năng thương mại hóa công nghệ, huy động nguồn lực xã hội và sức cạnh tranh của sản phẩm làm thước đo.
Một doanh nghiệp truyền thống có thể tích lũy tài sản rồi tiếp cận tín dụng. Startup công nghệ lại thường đi theo chiều ngược lại, đầu tư trước, tạo tài sản trí tuệ, tìm thị trường rồi mới hình thành dòng tiền lớn. Vì vậy, vốn cổ phần và vốn đầu tư mạo hiểm có vai trò đặc biệt quan trọng.
Theo giáo sư Nguyễn Xuân Thảo, Giám đốc Trung tâm Luật châu Á, Đại học Washington, Hoa Kỳ: “Quỹ đầu tư tư nhân đóng vai trò chắp cánh cho các công ty non trẻ và tài trợ cho các tài sản thiếu thanh khoản; trong khi quỹ đại chúng giúp hình thành giá và cung cấp thanh khoản để các nhà đầu tư tư nhân có công cụ thoái vốn. Nếu chỉ có quỹ đại chúng, Việt Nam sẽ thiếu đi một động lực tăng trưởng đột phá”.
Quỹ Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIF) hiện được định hướng hỗ trợ tài chính, chương trình ươm tạo, tăng tốc và đầu tư góp vốn, mua cổ phần hoặc phần vốn góp tại các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có công nghệ, giải pháp tiên tiến và khả năng tăng trưởng nhanh ở thị trường trong nước và quốc tế.
Nhìn sang Singapore, sự khác biệt không chỉ nằm ở thuế hay thủ tục thành lập doanh nghiệp. Quốc gia này xây dựng cả một hệ sinh thái xoay quanh khả năng tăng trưởng quốc tế của startup.
Chính phủ Singapore xác định nước này là một trung tâm cho doanh nghiệp toàn cầu và startup tiếp cận thị trường châu Á; hệ thống hỗ trợ bao gồm ưu đãi thuế, cơ chế đồng đầu tư và các chương trình dành cho doanh nghiệp công nghệ. Chương trình Startup SG Equity cho phép đồng đầu tư vào các startup công nghệ đặt tại Singapore có sở hữu trí tuệ và tiềm năng thị trường toàn cầu.
Đáng chú ý, Singapore còn sử dụng chính sách thuế để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào R&D và đăng ký sở hữu trí tuệ. Theo Enterprise Innovation Scheme, doanh nghiệp đủ điều kiện có thể được hưởng mức khấu trừ thuế cao đối với một số khoản chi R&D, đăng ký IP và mua hoặc cấp phép quyền sở hữu trí tuệ trong giai đoạn áp dụng.
Điều đó cho thấy một hệ sinh thái startup trưởng thành không chỉ phải trả lời câu hỏi "làm thế nào để startup ra đời?", mà còn phải giải quyết các bài toán về gọi vốn, bảo vệ IP, mở rộng quốc tế và tạo lối thoát cho nhà đầu tư.
Điều đó cho thấy một hệ sinh thái startup trưởng thành không chỉ trả lời câu hỏi “làm thế nào để startup ra đời?”, mà còn phải trả lời liên tục giải quyết các vấn đề làm thế nào để gọi vốn, bảo vệ IP, mở rộng quốc tế và tạo ra một lối thoát cho nhà đầu tư?
Từ câu chuyện Singapore, mục tiêu của Việt Nam không nhất thiết phải là giữ mọi startup ở lại bằng mọi giá. Một doanh nghiệp Việt vươn ra quốc tế, đặt một phần hoạt động ở nước ngoài hay lựa chọn pháp nhân phù hợp với nhà đầu tư không nhất thiết đồng nghĩa với việc Việt Nam mất đi toàn bộ giá trị.
Điều quan trọng hơn là Việt Nam có giữ được những phần giá trị cốt lõi hay không: đội ngũ R&D, công nghệ, tài sản trí tuệ, trung tâm phát triển sản phẩm, dữ liệu hợp pháp, chuỗi cung ứng, thị trường và khả năng tiếp tục tạo ra doanh nghiệp mới.
Đây cũng là hướng mà hợp tác Việt Nam - Singapore đang mở ra. Việt Nam có thị trường năng động, nguồn nhân lực trẻ và năng lực sản xuất ngày càng cao; Singapore có thế mạnh về R&D, quản trị dữ liệu, AI và kết nối quốc tế. Hai bên định hướng tăng cường trao đổi dữ liệu tin cậy, thử nghiệm, ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.