Chuyên đề

Kỳ vọng mở rộng tăng trưởng GDP và kịch bản điều hành tiền tệ 2026

Brian Lee Shun Rong & Chua Hak Bin - Kinh tế gia, Maybank Group 07/01/2026 05:55

Nền kinh tế kết thúc năm một cách mạnh mẽ, với tăng trưởng GDP trung bình +8% cho cả năm và cao hơn mức dự báo.

Điểm nhấn GDP và ngân hàng quý 4/2025

Trong quý 4/2025, GDP đã mở rộng +8,5%, nhanh hơn tốc độ +8,3% trong quý 3. Tăng trưởng được dẫn dắt bởi ngành sản xuất (+10,6% so với +9,6% trong quý 3), trong bối cảnh xuất khẩu sôi động và sự chuyển dịch chuỗi cung ứng. Ngành xây dựng duy trì tốc độ tương tự (+9,2% so với +9,25% trong quý 3) nhờ chi tiêu mạnh cho cơ sở hạ tầng. Trong khi đó ăng trưởng dịch vụ có sự khởi sắc nhẹ; Vận tải & kho bãi, dịch vụ lưu trú & ăn uống và nghệ thuật, vui chơi & giải trí đều ghi nhận mức tăng trưởng hai con số.

gdp.jpg
Theo Cục Thống kê, quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD, tăng 38 tỷ USD so với năm 2024 (476 tỷ USD). (Ảnh minh họa)

Đáng chú ý thương mại bán buôn & bán lẻ tăng +9,2%, nhanh hơn mức +8,9% trong quý 3. Cùng với đó tăng trưởng ngành tài chính, ngân hàng & bảo hiểm tăng tốc lên +9,4% (so với +7,8% trong quý 3) cùng với tăng trưởng tín dụng nóng (+19,4% tính đến tháng 12). Mặc dù vậy, thanh khoản hệ thống thắt chặt, với tăng trưởng cho vay vượt xa tăng trưởng tiền gửi, có thể kìm hãm tăng trưởng của ngành tài chính và cho vay trong thời gian tới.

Theo dữ liệu ghi nhận lãi suất cho vay liên ngân hàng đã leo lên mức 7%-8% vào cuối tháng 12/đầu tháng 1. Các ngân hàng thương mại đã tăng lãi suất huy động để huy động vốn, với hầu hết các ngân hàng đã niêm yết mức lãi suất tối đa là 4,75%/năm cho các kỳ hạn từ 1 đến 5 tháng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và cạnh tranh ở các kỳ hạn dài hơn.

Xuất khẩu tăng mạnh năm 2025

Xuất khẩu và sản lượng sản xuất được hưởng lợi từ điều kiện thời tiết tốt hơn trong tháng 12 sau những gián đoạn chuỗi cung ứng do bão lũ vào tháng trước đó. Nhu cầu từ các thị trường nước ngoài trọng điểm vẫn mạnh. Tăng trưởng xuất khẩu tháng 12 tăng lên mức cao nhất trong 3 tháng là +23,8% so với cùng kỳ năm trước (so với +15,3% trong tháng 11), với các lô hàng mở rộng +12,6% so với tháng trước trong mùa lễ hội.

Sự phân kỳ giữa xuất khẩu của khu vực trong nước (-10,8% so với 17% trong tháng 11) và các lô hàng của khu vực FDI đã nới rộng. Xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI tăng vọt +39%, mức cao nhất kể từ tháng 5 năm 2021.

Cán cân thương mại ghi nhận thâm hụt 655 triệu USD lần đầu tiên kể từ tháng 2, với tăng trưởng nhập khẩu (+27,7% so với +16% trong tháng 11) vượt xa tăng trưởng xuất khẩu.

Sự mở rộng xuất khẩu diễn ra trên diện rộng, với sự gia tăng ở các mặt hàng điện thoại & linh kiện (+11,1% so với +5,8% trong tháng 11), máy móc & thiết bị (+28,1% so với +5,5% trong tháng 11), sản phẩm gỗ (+6% so với +0,7% trong tháng 11) và thủy sản (+9,3% so với +8% trong tháng 11). Các lô hàng dệt may (+8,5% so với -2,7% trong tháng 11) và giày dép (+4,4% so với -4% trong tháng 11) đã phục hồi sau hai tháng suy giảm.

Các lô hàng máy tính, mặt hàng điện tử & linh kiện (+46,7% so với +53,3% trong tháng 11) vẫn là động lực xuất khẩu hàng đầu nhờ sự bùng nổ chi tiêu vốn cho AI, mặc dù mức tăng trưởng ít rõ rệt hơn so với năm tháng trước đó.

Dữ liệu sơ bộ chỉ ra rằng nhu cầu mạnh mẽ từ Hoa Kỳ là động lực chính cho sự gia tăng xuất khẩu trong tháng 12, với xuất khẩu sang Mỹ tăng vọt +38,1% so với một năm trước (so với +22,7% trong tháng 11). Điều này có khả năng phản ánh sự thay thế nhập khẩu từ Trung Quốc, khi các doanh nghiệp chuyển dây chuyền sản xuất sang Việt Nam để tận dụng mức thuế thấp hơn. Nhu cầu từ EU cũng tăng lên, với xuất khẩu tăng trưởng +15,9% (so với +4,4% trong tháng 11).

Hoạt động nhà máy vững chắc cùng với xuất khẩu. Tăng trưởng sản xuất công nghiệp tăng lên +10,1% so với cùng kỳ năm trước (so với mức điều chỉnh giảm +9,1% trong tháng 11), với sản lượng sản xuất leo lên +10,9% (so với +10,5% trong tháng 11).

Trong các cụm ngành chính, máy tính & điện tử tăng trưởng +7,9% (so với +9,9% trong tháng 11) nhưng có sự gia tăng ở thiết bị điện (+6,3% so với -0,5% trong tháng 11), xe cơ giới (+25,5% so với +4,3% trong tháng 11), đồ nội thất (+7,3% so với +3,6% trong tháng 11) và dệt may (+7,3% so với +5,5% trong tháng 11). Tăng trưởng trang phục (+11,6% so với +12,9% trong tháng 11) vẫn duy trì mạnh mẽ. Tuyển dụng được đẩy mạnh, với số lượng nhân sự ngành sản xuất tăng +0,9% so với tháng trước vào đầu tháng 12 và tăng +2,4% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh số bán lẻ tăng tốc trong mùa lễ hội

Doanh số bán lẻ kết thúc năm ở mức mạnh mẽ hơn, với mức tăng trưởng tăng tốc lên mức cao nhất trong 3 tháng là +9,8% trong tháng 12 (so với +7,2% trong tháng 11; +3,9% so với tháng trước) trong bối cảnh mùa lễ hội và các chiến dịch khuyến mãi cuối năm/trước Tết.

Tăng trưởng doanh số bán hàng hóa tăng lên +8,6% (so với +6% trong tháng 11), dẫn đầu bởi thực phẩm & đồ uống (+9,8%) và quần áo (+9,1%). Dịch vụ lưu trú và ăn uống (+14,2% so với +13,6% trong tháng 11) và du lịch (+19,9% so với +19,1% trong tháng 11) ghi nhận mức tăng trưởng cao hơn, hưởng lợi từ sự bùng nổ du lịch.

Lượng khách du lịch đến tăng +15,7% so với một năm trước trong tháng 12, dẫn đầu là du khách Trung Quốc (+25,7%) và Châu Âu (+47,3%). Trong cả năm, Việt Nam đã đón kỷ lục 21,2 triệu lượt khách quốc tế, cao hơn khoảng +20% so với năm 2024, được thúc đẩy bởi sự lan tỏa của du khách Trung Quốc chuyển hướng khỏi Thái Lan và việc miễn thị thực 45 ngày cho du khách Châu Âu. Điều kiện thị trường lao động vẫn khỏe mạnh.

Số lượng lao động có việc làm (52,7 triệu) trong quý 4 tăng 477,5 nghìn người so với quý trước, với mức tăng nhân sự chia đều cho khu vực công nghiệp & xây dựng (+229,7 nghìn) và dịch vụ (+207,2 nghìn). Tỷ lệ thiếu việc làm (1,67%) nhích lên từ mức thấp 1,5% trong quý 3, nhưng vẫn thấp hơn so với nửa đầu năm 2025. Tỷ lệ thất nghiệp là 2,22% trong quý 4 (so với 2,21% trong quý 3).

Các động lực giữ lạm phát thấp

Lạm phát toàn phần tháng 12 hạ nhiệt nhẹ xuống 3,5%, sau khi lũ lụt đẩy lạm phát lên mức cao nhất trong 5 tháng là +3,6% vào tháng 11. Giá cả tăng với tốc độ chậm hơn là +0,2% so với tháng trước (so với +0,45% trong tháng 11).

Các động lực chính giúp lạm phát thấp hơn trong tháng 12 là giao thông (-0,5% so với +1,1% trong tháng 11), nhờ giá nhiên liệu thấp hơn, và y tế (+13,2% so với +16,4% trong tháng 11).

Lạm phát hàng ăn & dịch vụ ăn uống leo lên +4,2% (so với +3,3% trong tháng 11), mặc dù tăng ít hơn xét theo tháng (+0,75% so với tháng trước so với +1% trong tháng 11). Việc tăng giá thực phẩm được thúc đẩy bởi rau (+3,9%) và một số loại cây trồng khác (ví dụ: ngô, khoai tây, sắn), do gián đoạn nguồn cung từ thiệt hại do lũ lụt. Lạm phát ăn uống ngoài gia đình nhích lên +4,2% (so với +4% trong tháng 11), do các quán ăn chuyển chi phí nguyên liệu thực phẩm cao hơn vào giá bán.

Chúng tôi nhắc lại dự báo lạm phát toàn phần leo lên 3,7% vào năm 2026 từ mức 3,1% trong năm 2025 khi nhu cầu trong nước tăng lên và đây cũng là yếu tố cần theo dõi.

Cam kết FDI vẫn mạnh mẽ

Giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng +9% trong năm 2025 lên 27,6 tỷ USD, nhanh hơn tốc độ +8,9% trong 11 tháng đầu năm 2025. Tổng cục Thống kê lưu ý rằng đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm qua.

Ngành sản xuất chiếm 82,8% vốn FDI, tiếp theo là hoạt động kinh doanh bất động sản (7%). Cam kết FDI tăng ở mức thấp hơn +0,5% lên 38,4 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng hạ nhiệt so với mức +7,4% trong giai đoạn tháng 1-11.

Vốn đăng ký của các cam kết mới giảm -12% về giá trị (so với -8,2% trong 11 tháng đầu năm 2025), mặc dù số lượng dự án mới tăng +20,1%. Trong khi đó, vốn FDI rót vào các dự án hiện hữu leo lên +0,8% đạt 14,1 tỷ USD, chậm hơn tốc độ +17% ghi nhận trong tháng 1-11. Mặc dù sự chậm lại đáng kể trong tăng trưởng cam kết FDI từ đầu năm đến nay thoạt nhìn có vẻ đáng lo ngại, nhưng kết quả hàng tháng trong tháng 12 (4,7 tỷ USD) thực tế là mức cao nhất kể từ tháng 5. Tuy nhiên, điều này bị che khuất bởi nền so sánh cao của cùng kỳ năm trước, với tổng vốn đăng ký FDI giảm -30,9% so với cùng kỳ năm trước trong tháng 12. Nhiều nhà đầu tư vẫn đang tiếp cận chờ đợi và quan sát.

Hiện theo chúng tôi các bước tiếp theo đã được thực hiện để đơn giản hóa và hợp lý hóa các quy trình đầu tư nước ngoài trong tháng 12, tạo điều kiện thuận lợi cho một năm FDI mạnh mẽ khác. Trong đó, Luật Đầu tư 2025 (được thông qua vào ngày 11/12 và có hiệu lực từ ngày 1/3/2026) đơn giản hóa các yêu cầu phê duyệt, giảm bớt các yêu cầu tiền kiểm để chuyển sang hậu kiểm và cho phép các nhà đầu tư nước ngoài thành lập công ty trước khi xin phê duyệt cho một dự án đầu tư là quan trọng.

NHNN trở nên thận trọng hơn về chính sách tiền tệ

Các NHTM đã sẵn sàng nguồn lực 500.000 tỷ đồng để cho vay theo chương trình tín dụng cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hạ tầng chiến lược.
Dự báo NHNN sẽ duy trì lãi suất chính sách điều hành, trần lãi suất huy động < 6 tháng, trong năm 2026.

Chúng tôi duy trì dự báo tăng trưởng GDP mạnh mẽ ở mức +7,6% vào năm 2026, nối tiếp tốc độ tăng trưởng +8% của năm 2025.

Tăng trưởng xuất khẩu sẽ hạ nhiệt khi không còn sự thúc đẩy từ việc đẩy mạnh thực hiện trước như đã thấy trong nửa đầu năm 2025, nhưng có khả năng sẽ vẫn kiên cường. Xuất khẩu và sản xuất đang hưởng lợi từ sự thay thế nhu cầu nhập khẩu của Hoa Kỳ, FDI gia tăng và sự bùng nổ chi tiêu vốn cho AI toàn cầu.

Ở trong nước, đầu tư có vẻ sẵn sàng tăng tốc nhờ phát triển cơ sở hạ tầng công cộng và chi tiêu vốn tư nhân, được xúc tác bởi các chủ đề như đa dạng hóa chuỗi cung ứng, AI và đổi mới công nghệ cao, phát triển năng lượng tái tạo và cải cách hành chính. Sự phục hồi tiêu dùng sẽ được hỗ trợ bởi thị trường lao động mạnh mẽ, lượng khách du lịch gia tăng và hỗ trợ tài khóa.

NHNN gần đây đã ra tín hiệu rằng chính sách tiền tệ sẽ được theo đuổi một cách thận trọng do tăng trưởng tín dụng nóng (+19,4% tính đến cuối tháng 12) và áp lực thanh khoản ngày càng tăng.

Mặc dù vậy, Vụ trưởng Vụ Chính sách Tiền tệ Phạm Chí Quang cho biết ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục theo đuổi "chính sách tiền tệ linh hoạt" để thúc đẩy cho vay và hỗ trợ doanh nghiệp.

Theo quan điểm của chúng tôi, điều này hàm ý sự ưu tiên cho chính sách tiền tệ nới lỏng (mặc dù không quá mức) để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng 10% của Chính phủ. Theo thông gần đây, khả năng NHNN phác thảo mục tiêu tăng trưởng tín dụng +15% cho năm 2026. Các ngân hàng thương mại đã và đang tăng lãi suất huy động để huy động vốn, với hầu hết các ngân hàng đã niêm yết mức lãi suất tối đa là 4,75%/năm cho các kỳ hạn từ 1 đến 5 tháng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hiện đang cạnh tranh ở các kỳ hạn dài hơn.

Kịch bản cơ sở của chúng tôi vẫn là NHNN sẽ duy trì lãi suất chính sách điều hành, trần lãi suất huy động < 6 tháng, trong năm 2026.

Chúng tôi cho rằng NHNN sẽ tiếp tục dựa vào nghiệp vụ thị trường mở và hoán đổi ngoại tệ (FX swaps) để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của các ngân hàng. Áp lực lên tỷ giá USD/VND sẽ giảm bớt khi Fed cắt giảm lãi suất quỹ, giúp NHNN có thêm dư địa để quản lý thanh khoản hệ thống và duy trì lãi suất chính sách. Tuy nhiên, rủi ro đang nghiêng về phía tăng lãi suất huy động < 6 tháng, điều có thể thành hiện thực vào cuối năm nếu áp lực tỷ giá gia tăng, điều kiện thanh khoản thắt chặt kéo dài qua giai đoạn mùa vụ Tết và áp lực lạm phát mở rộng.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
Kỳ vọng mở rộng tăng trưởng GDP và kịch bản điều hành tiền tệ 2026
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO