Thị trường trái phiếu chính phủ toàn cầu trải qua một đợt bán tháo sâu rộng, đẩy chi phí vay của các nền kinh tế lớn lên những mức chưa từng thấy trong nhiều năm.
Tại Nhật Bản, lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm chạm mốc 3%, lần đầu tiên kể từ năm 1996. Lợi suất chuẩn kỳ hạn 10 năm của Đức lên mức cao nhất kể từ 2011, còn lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 10 năm leo lên khoảng 4,8%, mức cao nhất kể từ đầu năm 2025.

Điểm đáng chú ý là tính đồng loạt của đợt bán tháo trái phiếu lần này. Đây không phải câu chuyện của riêng một nền kinh tế, mà là hiện tượng lan từ Tokyo và Sydney tới New York và London. Lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 30 năm trước đó đã lên đỉnh kể từ 2007, và theo Bloomberg, chưa từng neo cao lâu như vậy kể từ 2006.
Tại châu Âu, sức ép còn rõ hơn. Lợi suất trái phiếu 30 năm của Đức vượt 3,84%, cao nhất kể từ 2011. Lợi suất kỳ hạn 10 năm của Pháp lên trên 4,2%, mức cao nhất kể từ tháng 11/2008. Pháp đang dần thay Italy trở thành tâm điểm lo ngại nợ công của khu vực đồng euro, với nợ công dự báo chạm 118,4% GDP trong năm nay và thâm hụt ngân sách khoảng 5,2%.
Tại Anh, lợi suất trái phiếu kỳ hạn 30 năm lên mức cao nhất kể từ 1998, còn lợi suất trái phiếu Australia kỳ hạn 10 năm ghi nhận nhịp tăng mạnh nhất trong 5 tháng.
Theo các nhà phân tích, đợt bán tháo là kết quả của ba lực đẩy cùng lúc. Thứ nhất là lạm phát do năng lượng. Việc Mỹ và Iran giao tranh trở lại quanh eo Hormuz đẩy giá dầu Brent lên gần 95 USD/thùng, làm sống lại lo ngại giá cả và khiến nhà đầu tư đặt cược rằng các ngân hàng trung ương, từ Fed tới Ngân hàng Trung ương châu Âu, sẽ phải nâng lãi suất trong tháng này.
Thứ hai là nỗi lo tài khóa. Nợ công của Mỹ đã vượt mốc kỷ lục 40.000 tỷ USD trong tháng 8, các bộ ngành Nhật Bản dự kiến đề xuất ngân sách cao chưa từng có cho năm tài khóa tới; còn Pháp và Anh cũng vật lộn với gánh nặng nợ công. Nhà đầu tư đòi hỏi phần bù kỳ hạn cao hơn, tức mức lợi suất tăng thêm để bù cho rủi ro nắm giữ nợ dài hạn trong bối cảnh kỷ luật ngân sách lung lay.
Thứ ba là nguồn cung dồn dập. Năm hãng công nghệ siêu quy mô gồm Alphabet, Amazon, Meta, Microsoft và Oracle đã phát hành 220 tỷ USD trái phiếu trong năm 2026 để tài trợ hạ tầng AI, hơn gấp đôi cả năm trước, theo dữ liệu LSEG. Điều này góp phần đưa tổng lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp toàn cầu lên mức kỷ lục 4.900 tỷ USD tính từ đầu năm nay. Khi nhu cầu vay tăng vọt, người cho vay có thể đòi lãi suất cao hơn.

Cột mốc 3% của Nhật Bản mang ý nghĩa đặc biệt. Với một nền kinh tế vừa thoát khỏi kỷ nguyên lãi suất siêu thấp, đây là ngưỡng có tính biểu tượng cao.
Ông Masahiko Loo, chiến lược gia trái phiếu cấp cao tại State Street Investment Management ở Tokyo, cho rằng nên nhìn nhận đây là câu chuyện bình thường hóa hơn là khủng hoảng. Theo ông, thị trường đang định giá lại lạm phát và lãi suất cao hơn, còn nhà đầu tư trái phiếu đang cân nhắc tổng hòa rủi ro lạm phát, nguồn cung nặng và việc định giá lại phần bù kỳ hạn.
Diễn biến tại Nhật cũng có tính lan tỏa. Khi lợi suất trong nước tăng, nhà đầu tư Nhật có thể giảm mua trái phiếu nước ngoài, qua đó đẩy lợi suất ở Mỹ, châu Âu và Australia lên theo. Lợi suất cao kéo dài có thể siết chặt chi tiêu của hộ gia đình và doanh nghiệp, đồng thời làm trầm trọng thêm gánh nặng ngân sách các chính phủ.
Trước đó, Bộ Tài chính Mỹ đã tăng quy mô mua lại trái phiếu nhằm ghìm chi phí vay, một động thái mà giới phân tích cho là nhằm hạ nhiệt thị trường. Về cuối phiên, lợi suất hạ nhiệt phần nào khi nhà đầu tư chờ dữ liệu việc làm Mỹ, với báo cáo ADP và bảng lương phi nông nghiệp (NFP) được công bố trong tuần này, cùng cuộc họp của Fed ngày 18/9. Những sự kiện này sẽ quyết định liệu đợt bán tháo là một bước bình thường hóa có trật tự hay khởi đầu cho một giai đoạn căng thẳng kéo dài hơn.
Với Việt Nam, mặt bằng lợi suất toàn cầu cao có tác động gián tiếp nhưng thực chất. Chi phí vốn quốc tế cao hơn làm tăng gánh nặng cho hoạt động huy động vốn nước ngoài của Chính phủ và doanh nghiệp, đồng thời tạo lực đỡ cho đồng USD, gây sức ép lên tỷ giá VND và thu hẹp dư địa nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước.