Các luật mới không chỉ tháo gỡ điểm nghẽn trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu, mà còn mở đường hình thành hệ sinh thái trung gian công nghệ chuyên nghiệp.
Việc Quốc hội thông qua đồng loạt các đạo luật quan trọng tại Kỳ họp thứ 10 như Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, Luật Công nghệ cao (sửa đổi), được kỳ vọng sẽ tạo ra bước ngoặt lớn cho hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Việt Nam.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, luật pháp tiến bộ mới chỉ là điều kiện cần. Để công nghệ thực sự đi từ phòng thí nghiệm ra thị trường, điều quyết định là phải hình thành được một hệ sinh thái trung gian công nghệ chuyên nghiệp.
Tại các nền kinh tế đổi mới sáng tạo hàng đầu, thương mại hóa công nghệ không diễn ra theo cách nhà khoa học tự mình đi tìm doanh nghiệp để bán sáng chế. Giữa bên tạo ra tri thức và bên có nhu cầu ứng dụng luôn tồn tại một mạng lưới các tổ chức trung gian chuyên nghiệp, đóng vai trò kết nối, tư vấn, định giá và chia sẻ rủi ro.
Các tổ chức này bao gồm văn phòng chuyển giao công nghệ (Technology Transfer Office - TTO), trung tâm ươm tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm, tổ chức định giá tài sản trí tuệ, công ty tư vấn pháp lý, tổ chức môi giới công nghệ và các doanh nghiệp thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Họ đảm nhiệm toàn bộ chuỗi công việc từ đánh giá tiềm năng thương mại của kết quả nghiên cứu, xây dựng chiến lược sở hữu trí tuệ, định giá công nghệ, tìm kiếm đối tác, đàm phán hợp đồng đến hỗ trợ thành lập doanh nghiệp spin-off.
Tại United States, thành công của Massachusetts Institute of Technology hay Stanford University không chỉ đến từ năng lực nghiên cứu xuất sắc mà còn nhờ các văn phòng chuyển giao công nghệ được vận hành như những “doanh nghiệp dịch vụ” với đội ngũ luật sư, chuyên gia định giá và cố vấn kinh doanh chuyên sâu.
Tại Israel, các trường đại học lớn đều sở hữu công ty thương mại hóa công nghệ hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Điển hình, Yissum Research Development Company của Hebrew University of Jerusalem đã cấp phép hàng nghìn sáng chế và góp phần hình thành nhiều doanh nghiệp công nghệ có giá trị toàn cầu.
Tại Singapore, Agency for Science, Technology and Research đóng vai trò cầu nối giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp, chủ động đưa công nghệ vào sản xuất và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp năng lực đổi mới sáng tạo.
Điểm chung của các mô hình thành công là sự hiện diện của đội ngũ trung gian có trình độ chuyên môn cao, vận hành theo nguyên tắc thị trường và được bảo đảm bởi khung pháp lý rõ ràng.
Tại Việt Nam, những quy định mới được Quốc hội thông qua đã thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách: coi kết quả nghiên cứu khoa học và tài sản trí tuệ không chỉ là sản phẩm học thuật mà là một loại tài sản có giá trị kinh tế, có thể được định giá, góp vốn, chuyển nhượng, cấp phép và khai thác thương mại.
Đây là thay đổi mang tính nền tảng bởi khi công nghệ được nhìn nhận như một loại hàng hóa đặc biệt, tất yếu sẽ hình thành nhu cầu đối với các dịch vụ hỗ trợ giao dịch công nghệ.
Doanh nghiệp cần đơn vị thẩm định công nghệ trước khi quyết định đầu tư. Viện nghiên cứu và trường đại học cần chuyên gia tư vấn về sở hữu trí tuệ, chiến lược khai thác sáng chế và đàm phán hợp đồng. Nhà đầu tư cần tổ chức độc lập đánh giá giá trị công nghệ và triển vọng thị trường. Các startup khoa học công nghệ cần vườn ươm, cố vấn và nguồn vốn đồng hành.
Nói cách khác, luật mới không chỉ mở đường cho thương mại hóa kết quả nghiên cứu mà còn mở ra dư địa phát triển cho một thị trường dịch vụ trung gian công nghệ chuyên nghiệp – lĩnh vực còn khá sơ khai ở Việt Nam.
Để hiện thực hóa tiềm năng mà khung pháp lý mới mở ra, Việt Nam cần triển khai đồng bộ ba trụ cột chiến lược nhằm thúc đẩy hệ sinh thái chuyển giao và thương mại hóa công nghệ phát triển bền vững, trên cơ sở tận dụng hiệu quả các cơ chế từ các luật mới cùng các nghị quyết mới về đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế tri thức.

Trước hết, cần đẩy mạnh xây dựng và chuyên nghiệp hóa các văn phòng chuyển giao công nghệ tại trường đại học và viện nghiên cứu. Theo tinh thần của Luật Chuyển giao công nghệ và các quy định về tự chủ đại học, những đơn vị này không chỉ đóng vai trò cầu nối giữa nghiên cứu và thị trường mà còn cần được trao cơ chế tài chính linh hoạt, cho phép giữ lại một phần nguồn thu từ hoạt động thương mại hóa tài sản trí tuệ để tái đầu tư vào nhân sự chất lượng cao, năng lực vận hành và hạ tầng hỗ trợ đổi mới sáng tạo.
Đây được xem là điều kiện nền tảng để gia tăng tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong khu vực công.
Song song đó, Việt Nam cần tập trung phát triển đội ngũ nhân lực chuyên sâu phục vụ thị trường công nghệ. Đây là lực lượng bao gồm chuyên gia định giá tài sản trí tuệ, luật sư công nghệ, cố vấn thương mại hóa, chuyên gia huy động vốn cũng như các quỹ đầu tư mạo hiểm sẵn sàng đồng hành cùng doanh nghiệp công nghệ từ giai đoạn đầu.
Trong bối cảnh Luật Sở hữu trí tuệ đã mở rộng cơ chế bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ, việc hình thành đội ngũ trung gian có năng lực sẽ đóng vai trò quyết định trong việc chuyển hóa sáng chế, sáng kiến thành tài sản thương mại có giá trị thực tiễn.
Bên cạnh yếu tố con người và tổ chức, việc hoàn thiện chính sách hỗ trợ thị trường trung gian công nghệ cũng mang ý nghĩa then chốt. Nhà nước cần thiết kế các cơ chế ưu đãi thuế cho hoạt động đổi mới sáng tạo, hỗ trợ chi phí tư vấn pháp lý và định giá công nghệ, đồng tài trợ cho các dự án chuyển giao công nghệ, đồng thời triển khai cơ chế đặt hàng dịch vụ môi giới công nghệ theo định hướng của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và các chương trình phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Những chính sách này sẽ góp phần giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch và thúc đẩy dòng chảy công nghệ giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp.
Nếu pháp luật là hành lang thể chế tạo nền móng cho thị trường công nghệ vận hành, thì hệ sinh thái trung gian công nghệ chính là hạ tầng kết nối giúp các giao dịch công nghệ thực sự diễn ra hiệu quả và bền vững.
Khi có những tổ chức đủ năng lực để định giá, tư vấn, kết nối và chia sẻ rủi ro, các viện nghiên cứu sẽ mạnh dạn hơn trong việc đưa sáng chế ra thị trường; doanh nghiệp cũng tự tin hơn khi đầu tư vào công nghệ mới; trong khi đó, các nhà khoa học sẽ có thêm động lực để theo đuổi quá trình phát triển sản phẩm đến giai đoạn thương mại hóa cuối cùng.
* Phụ trách Viện Luật So sánh, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh