Một trong những đề xuất để tăng tính linh hoạt dòng vốn cho các ngân hàng, là sửa đổi Thông tư 26/2022/TT-NHNN.
Thông tin này được nhiều ngân hàng cho biết, đã được thảo luận tại buổi họp do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước gặp các ngân hàng thương mại ngày 9/4/2026. Sau buổi họp này, các ngân hàng đã thực hiện cam kết đồng thuận hạ lãi suất huy động từ 0,5-1%.

Tuy nhiên, áp lực đối với thanh khoản của hệ thống vẫn đang hiện hữu. Các đề xuất được thảo luận tại cuộc họp vì vậy cũng đang được các NHTM mong chờ cơ quan quản lý sớm xem xét.
Theo quy định tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 26/2022/TT-NHNN), phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (KBNN) được đưa vào tổng tiền gửi trong tính toán tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) nhằm hỗ trợ hệ thống ngân hàng sau đại dịch Covid-19 nhưng với tỷ lệ khấu trừ tăng dần. Cụ thể, cấu phần nguồn vốn này trong tổng tiền gửi bị khấu trừ 50% trong năm 2023, 60% trong năm 2024, 80% trong năm 2025 và 100% từ năm 2026 trở đi. Theo đó, tính tới thời điểm hiện tại, toàn bộ tiền gửi KBNN không còn được tính vào mẫu số tỷ lệ LDR.
Trong bối cảnh lượng tiền gửi Kho bạc có thời điểm lên tới nửa triệu tỷ đồng nhưng 100% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước giá trị "khủng" ấy lại chính thức bị loại trừ khỏi tổng tiền gửi khi xác định tỷ lệ LDR, các ngân hàng - đặc biệt là các NHTM có vốn quốc doanh được hưởng lợi nhờ vị thế "địa chỉ" mà Kho bạc Nhà nước gửi tiền, mất đi một khoản thanh khoản lớn.
Do đó, một trong những hướng nới lỏng, tạo sự linh hoạt nguồn vốn hơn cho các ngân hàng, là xem xét sửa đổi hoặc gia hạn lộ trình tại Thông tư 26. Theo đó, tại cuộc họp giữa NHTM với 46 ngân hàng thương mại ngày 9/4, có ý kiến đề xuất cho phép duy trì việc tính một phần tiền gửi Kho bạc Nhà nước (ví dụ duy trì ở mức 20% như năm 2025) thêm một thời gian nữa thay vì cắt bỏ hoàn toàn về 0%.
Bên cạnh đó, điều chỉnh kỹ thuật trong công thức tính LDR. Tại cuộc họp, một số ngân hàng thương mại đề nghị NHNN xem xét mở rộng các cấu phần được tính vào "Huy động", ví dụ như các khoản vay dài hạn từ các định chế tài chính quốc tế hoặc các chứng chỉ tiền gửi dài hạn với tỷ lệ cao hơn để giảm áp lực huy động dân cư.
Đề xuất tăng hạn mức LDR cũng được tính đến. Cụ thể một số ý kiến từ phía các ngân hàng cổ phần cho rằng trong bối cảnh thanh khoản hệ thống có áp lực cục bộ, NHNN có thể xem xét nới trần LDR từ 85% lên cao hơn (ví dụ 87-90%) cho những ngân hàng có chỉ số an toàn vốn (CAR) tốt.
Ngoài ra, việc NHNN tiếp tục duy trì cho Vietcombank, HDBank, MB và VPBank, các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc, giảm 50% dự trữ bắt buộc, theo Thông tư 23 sửa đổi Thông tư 30 về dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực từ 1/10/2025 - có ý nghĩa hỗ trợ cả 8 ngân hàng (bao gồm nhóm chuyển giao bắt buộc VCBNEO, MBV, PGBank, Vikki Digital Bank) và hệ thống.
Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Chứng khoán KB Việt Nam, nếu việc nới lỏng cách tính LDR trên được thực hiện, áp lực tăng lãi suất trên thị trường 1 (thị trường dân cư) sẽ giảm hẳn.
Nhóm ngân hàng được hưởng lợi nhiều nhất nếu quy định trên được nới lỏng như nêu trên vẫn là nhóm ngân hàng quốc doanh. Nếu được thông qua, quy định mới về cách tính LDR sẽ giúp nhóm NHTM Nhà nước cải thiện đáng kể tỷ lệ LDR (hiện đã bám khá sát mức trần 85%), do nhóm này nắm giữ hầu hết nguồn tiền gửi KBNN vào hệ thống ngân hàng, qua đó mở rộng thêm dư địa tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới.
Nhóm này cũng là những nhà cho vay lớn trên thị trường liên ngân hàng. Do đó, thanh khoản dồi dào sẽ góp phần giảm áp lực lãi suất cho thị trường này và giúp các ngân hàng tiếp cận vốn với chi phí "mềm", giảm động lực chạy đua hút nguồn vốn qua công cụ tăng lãi suất.
Nhận định chi tiết hơn, chuyên gia phân tích của Chứng khoán Rồng Việt cho rằng, những tín hiệu mới từ chính sách của NHNN để hạ nhiệt mặt bằng lãi suất huy động thời gian vừa qua là khá tích cực. Tuy nhiên, việc giảm lãi suất ngắn hạn sẽ không tác động nhiều đến các dòng lãi suất phát hành nguồn M3 (Chứng chỉ tiền gửi (CDs), Trái phiếu định chế (FIBond)) và các dòng lãi suất này vẫn đang tiếp tục tăng cao và ảnh hưởng đến tỷ lệ chi phí huy động vốn (COF) của NHTM. Và các dòng lãi suất kỳ hạn dài thực tế vẫn còn neo cao.
Nguyên do, theo chuyên gia lý giải, trong cấu trúc cho vay của hệ thống ngân hàng, phần cho vay kỳ hạn dài vẫn không cân đối được từ nguồn tiền gửi của Kho bạc Nhà nước hoặc các biện pháp tức thời liên qua đến hành vi tiền gửi như hạ lãi suất thị trường 1.
Chỉ có phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu định chế mới là đảm bảo được nguồn huy động dài, mặt khác các nguồn huy động M3 này không bị áp trần lãi suất huy động nên cũng không tính là vi phạm thỏa thuận tại cuộc họp ngày 09/4/2026 của NHNN.
Vì vậy, chuyên gia cũng nêu quan điểm với bối cảnh hiện tại, cách xử lý sẽ tương tự như năm 2023 (tức là nới lỏng Thông tư 26 (bao gồm cả tỷ lệ LDR và SFL) để tiến có thể quay vòng nhanh hơn trong hệ thống nhưng lãi suất huy động kỳ hạn dài để cân đối các khoản vay kỳ hạn dài trong hệ thống vẫn phụ thuộc vào nguồn phát hành M3.
Nói cách khác, giải pháp quan trọng và khả thi - tháo "nút thắt cổ chai" Thông tư 26, sẽ giúp các ngân hàng cải thiện thanh khoản.

Trong đó, tháo "điểm nghẽn" tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (SFL) tại các NHTMCP, theo quy định hiện tại ở mức 30% và các cấu phần tính tỷ lệ này hoàn toàn phụ thuộc thị trường 1 (do đó khó xử lý cân đối), có ý nghĩa quan trọng với các NHTMCP có tỷ trọng cho vay bất động sản cao.
Một vài phương án đề xuất khả thi tại thời điểm này đối với tỷ lệ SFL là nới tỷ lệ này hoặc thay thế bằng một tỷ lệ khác, tương đương trong Basel III là là NFSR (tỷ lệ nguồn vốn ròng ổn định). Theo chuyên gia, với tỷ lệ NFSR, ngân hàng tự do hơn trong mô hình tính toán hành vi tiền gửi và có thể sử dụng các nguồn ngắn hạn để cho vay. Trong trường hợp SFL được đề xuất ở mức cao hơn 30%, các ngân hàng như TCB, VPB, MBB sẽ hưởng lợi.
NFSR được biết là một trong hai tiêu chuẩn của Basel III. Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) đã đưa ra hai tiêu chuẩn thanh khoản để quản lý rủi ro và kiểm soát thanh khoản. Trong đó NFSR yêu cầu ngân hàng duy trì nguồn vốn ổn định (trên 1 năm) đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn, đảm bảo tỷ lệ lớn hơn 100%. Việc yêu cầu các NHTM thực hiện quy định về an toàn vốn tại Thông tư 14/2025 của NHNN cho thấy định hướng của NHNN trong việc hoạch định và ổn định chính sách tiền tệ cũng như đảm bảo an toàn hệ thống cho các ngân hàng. Trong đó, với việc đặt ra yêu cầu cốt lõi cần tuân thủ về an toàn vốn, các NH bắt buộc tiến đến tiệm cận với chuẩn Basel III.