Năm Bính Ngọ 2026 có thể sẽ là năm bùng nổ đầu tư, trọng điểm là đầu tư hạ tầng và dẫn dắt các lĩnh vực khác, với các trụ cột quan trọng của khối doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.

Theo đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) sẽ là một kênh vốn vô cùng quan trọng đối với nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và doanh nghiệp.
Việt Nam bước vào năm 2026 với vị thế mới, mạnh mẽ, tự tin và “tham vọng” hướng đến nền kinh tế phát triển từ bệ phóng của các khu vực kinh tế và nền tảng đầu tư hạ tầng. Thống kê sơ bộ của SHS cho thấy, với quy mô gần 200 tỷ USD/năm, từ 2026, thị trường sẽ chứng kiến sự bùng nổ đầu tư hạ tầng mạnh mẽ nhất, tạo ra cú bật rất mạnh cho nền kinh tế. Trong một số lĩnh vực, doanh nghiệp nào tận dụng được cơ hội này sẽ trở thành siêu doanh nghiệp trong tương lai.
Để đáp ứng “cú bật” đầu tư, kênh TPDN trở nên cần thiết, đặc biệt đặt trong bối cảnh tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên sát ngưỡng 150% và bài toán kiểm soát tín dụng chất lượng đang được đặt ra. Tuy nhiên, năm 2026 cũng là năm có khối lượng TPDN đáo hạn lớn nhất. “Năm 2026 là một “phép thử” lớn đối với thị trường TPDN, nhưng bức tranh không còn bi quan như 2022 – 2023, dù rủi ro thanh khoản cục bộ vẫn hiện hữu”, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn - Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright nhận định.
Trước hết về quy mô đáo hạn, tổng giá trị TPDN đáo hạn trong năm 2026 ước tính khoảng 190 nghìn tỷ đồng, thấp hơn mức đỉnh đáo hạn của năm 2025, song áp lực tập trung mạnh vào nửa cuối năm, với riêng 6 tháng cuối 2026 khoảng 145 nghìn tỷ đồng. “Khối phi ngân hàng chiếm phần lớn, trong đó bất động sản chiếm gần 70% giá trị đáo hạn, cho thấy hệ quả của việc giãn hoãn trái phiếu trong giai đoạn trước dồn sang”, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn phân tích.
Về “sức khỏe” thị trường trái phiếu, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn cho rằng đã có cải thiện đáng kể so với thời điểm khủng hoảng. Đến cuối quý 3/2025, dư nợ TPDN đạt khoảng 1,27 triệu tỷ đồng, tương đương 7% tổng dư nợ tín dụng, cho thấy thị trường đã bắt đầu phục hồi. Riêng năm 2025, giá trị phát hành mới đạt khoảng 440 nghìn tỷ đồng, trong khi giá trị mua lại trước hạn khoảng gần 275 nghìn tỷ đồng, cho thấy doanh nghiệp chủ động tái cơ cấu nợ trước khi bước vào cao điểm đáo hạn 2026. Lãi suất phát hành bình quân cũng đã giảm xuống 7 – 8%/năm, thấp hơn năm 2022.
“Nhìn chung, khả năng hấp thụ khối lượng đáo hạn năm 2026 là tốt, đặc biệt nếu so với năm 2025. Tuy nhiên, điều quan trọng là khả năng hấp thụ này mang tính phân hóa rất mạnh. Thị trường hiện không thiếu vốn nói chung, nhưng thiếu vốn đối với các doanh nghiệp yếu, nhất là những doanh nghiệp bất động sản có đòn bẩy cao, dự án chậm triển khai và dòng tiền bán hàng chưa phục hồi. Với nhóm này, áp lực đáo hạn trong năm 2026 có thể tạo ra các cú sốc thanh khoản cục bộ, dù khó lan rộng. 2026 là năm sàng lọc mạnh của thị trường TPDN”, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn khẳng định.
TS Đỗ Thiên Anh Tuấn cho rằng, với những doanh nghiệp đã tranh thủ giảm đòn bẩy, tái cơ cấu kỳ hạn, cải thiện minh bạch và khôi phục dòng tiền trong thời gian qua có khả năng vượt qua đỉnh đáo hạn tương đối an toàn. Ngược lại, các doanh nghiệp chỉ kéo dài thời gian trả nợ mà không cải thiện thực chất năng lực tài chính sẽ đối mặt với rủi ro rất lớn khi trái phiếu đến hạn, trong khi việc tái tài trợ cũng sẽ gặp khó khăn khi lãi suất cao hơn.
“Về cơ hội huy động vốn cho doanh nghiệp tư nhân, “cánh cửa” không đóng, nhưng sẽ hẹp hơn. Thị trường vẫn chấp nhận vốn trái phiếu đối với các doanh nghiệp có tài sản bảo đảm rõ ràng, dòng tiền minh bạch và mức lãi suất phản ánh đúng rủi ro. Ngược lại, thời của phát hành dễ như giai đoạn trước Covid-19 dường như khó lặp lại. Doanh nghiệp tốt vẫn có thể huy động vốn, thậm chí với chi phí hợp lý; còn doanh nghiệp yếu vẫn không phát hành được hoặc phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn”, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn nhấn mạnh.
Ở góc nhìn của công ty xếp hạng tín nhiệm , ông Phùng Xuân Minh - Chủ tịch Saigon Ratings cũng nhấn mạnh, trong giai đoạn tăng trưởng kinh doanh, xếp hạng tín nhiệm là thước đo hiệu quả để tối ưu hóa cấu trúc vốn, giúp doanh nghiệp biết rõ "giá trị" của mình để thực hiện chính sách quản trị tài chính; gắn với việc có thể đàm phán với các nhà tài trợ vốn trên thị trường, để có được mức lãi suất vay tốt nhất và phù hợp nhất cho tổ chức.
“Năm 2026, để nắm bắt cơ hội kinh doanh và tăng tốc, “phi mã” về đích, điều kiện tiên quyết của doanh nghiệp cần là không chỉ xem yếu tố tăng trưởng doanh số và lợi nhuận trên hết mà quan trọng là chỉ số đo lường chữ tín - xây dựng hình ảnh, uy tín thương hiệu doanh nghiệp mới là cốt lõi. Cùng với đó, điều kiện đủ là sự minh bạch thông tin, công khai “chữ tín” - mức độ xếp hạng tín nhiệm của mình, để tạo dựng niềm tin trong đối tác, nhà đầu tư, trái chủ”, ông Minh chia sẻ.
Theo ông Minh, đây vừa là “giáp kim cương" để có thể bảo vệ hiệu quả tổ chức, vừa góp phần xây dựng, củng cố và nâng cao uy tín về “sức khỏe” tài chính doanh nghiệp trên thị trường, từ đó phát huy thành những lợi thế hút dòng tiền và cạnh tranh phát triển bền vững.