VCCI

VCCI

Xây dựng năng lực nền tảng để thích ứng với EUDR

Bài & Ảnh: Gia Nguyễn 22/09/2026 14:26

Trong bối cảnh thương mại quốc tế đang định hình lại luật chơi theo các tiêu chí bền vững, quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) không chỉ là một thách thức kỹ thuật mà còn là cơ hội để hàng hóa Việt Nam nâng tầm vị thế.

Nhằm hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp và các chủ thể liên quan hiểu chính xác, đầy đủ và cập nhật về các yêu cầu của EUDR từ góc độ nhà xuất khẩu, đồng thời trao đổi về sự chuẩn bị, các vấn đề còn vướng mắc và giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng EUDR, sáng 22/9, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội thảo: Quy định về chống mất rừng của Liên minh Châu Âu (EUDR) - Những điều doanh nghiệp cần biết”.

eudr-22.9.2.jpg
Sáng 22/9, VCCI tổ chức Hội thảo: Quy định về chống mất rừng của Liên minh Châu Âu (EUDR) - Những điều doanh nghiệp cần biết”

Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI cho biết, thương mại quốc tế đang bước vào một giai đoạn mà luật chơi được định hình lại theo những tiêu chí mới.

Trong nhiều thập kỷ, năng lực cạnh tranh của một nền kinh tế xuất khẩu được đo bằng giá thành, chất lượng và tiến độ giao hàng. Ngày nay, bên cạnh những yếu tố đó, thị trường còn đặt thêm một câu hỏi khác, đó là hàng hóa này được làm ra như thế nào, từ đâu, và để lại hệ quả gì cho môi trường cùng cộng đồng nơi sản xuất.

Theo ông Tuấn, quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu là một biểu hiện rõ nét của sự dịch chuyển đó. Đây không phải là một biện pháp đơn lẻ hay nhất thời, mà là một cấu phần trong hệ thống chính sách xanh mà EU đang triển khai đồng bộ, bên cạnh cơ chế điều chỉnh carbon tại biên giới, các quy định về thẩm định chuỗi cung ứng, về bao bì và về lao động cưỡng bức.

Điểm chung của cả hệ thống này là chuyển trọng tâm quản lý từ sản phẩm sang quá trình, và từ biên giới quốc gia vào sâu trong chuỗi cung ứng. Vì vậy, cách tiếp cận đúng đắn không phải ứng phó với từng quy định tới hạn, mà là xây dựng năng lực nền tảng để thích ứng với cả một xu hướng đã định hình.

eudr-22.9.3.jpg
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI phát biểu khai mạc hội thảo

Cũng theo ông Tuấn, chỉ còn hơn ba tháng nữa, từ ngày 30/12/2026, EUDR sẽ chính thức áp dụng đối với các doanh nghiệp lớn và vừa, và từ ngày 30/6/2027 đối với các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Quy định bao trùm hơn 80 dòng hàng thuộc 07 nhóm sản phẩm là gia súc, ca cao, cà phê, dầu cọ, cao su, đậu tương và gỗ, với ba điều kiện bắt buộc là tính không gây mất rừng, tính hợp pháp theo pháp luật nước nơi sản xuất, và việc được khai báo trong Tuyên bố thẩm định.

Với Việt Nam, đây không phải là câu chuyện của một vài lô hàng. Cà phê, cao su, gỗ và sản phẩm gỗ đều nằm trong nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực, và EU là một trong những thị trường lớn nhất, đồng thời là thị trường định hướng tiêu chuẩn cho nhiều thị trường khác. Những gì làm được hôm nay để đáp ứng EUDR sẽ ảnh hưởng tới vị thế của hàng hóa Việt Nam không chỉ tại châu Âu.

“Về mặt pháp lý, nghĩa vụ thuộc về chủ thể kinh doanh tại EU. Doanh nghiệp Việt Nam không phải là đối tượng điều chỉnh trực tiếp. Nhưng về mặt thực tế, toàn bộ dữ liệu để thực hiện nghĩa vụ đó lại nằm ở đầu Việt Nam, tại thửa đất của người nông dân, tại cơ sở thu mua, tại nhà máy sơ chế và chế biến. Nghĩa vụ ở một phía, còn khả năng thực hiện lại ở phía bên kia. Đó chính là lý do vì sao một quy định của châu Âu lại trở thành phép thử đối với năng lực quản trị chuỗi cung ứng của Việt Nam”, ông Tuấn chia sẻ.

eudr-22.9.1.jpg
Các đại biểu, chuyên gia, và hiệp hội ngành hàng tham gia thảo luận tại hội thảo

Bên cạnh đó, nêu ba chuyển dịch cần thiết: Chuyển từ tư duy hồ sơ xuất khẩu sang tư duy dữ liệu chuỗi cung ứng; chuyển từ tuân thủ đơn lẻ sang hợp tác ngành hàng; chuyển từ tâm thế bị động sang tâm thế chủ động.

Ông Đậu Anh Tuấn cho rằng, đáp ứng EUDR không phải là chuẩn bị thêm một bộ chứng từ ở khâu cuối, mà là khả năng truy xuất liên tục từ thửa đất tới container. Một chuỗi cung ứng với nhiều tầng trung gian, nếu không được tổ chức lại về mặt thông tin, thì dù sản xuất hoàn toàn hợp pháp và không liên quan tới mất rừng, cũng vẫn có thể không chứng minh được điều đó.

Theo ông Tuấn, không một doanh nghiệp nào, dù lớn đến đâu, có thể tự mình số hóa hàng trăm nghìn hộ sản xuất. Đây là bài toán của cả ngành hàng, cần vai trò dẫn dắt của hiệp hội, sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước về dữ liệu đất đai và dữ liệu rừng, cùng sự chia sẻ chi phí một cách hợp lý giữa các mắt xích trong chuỗi.

“Việt Nam đã được EU xếp vào nhóm quốc gia rủi ro thấp. Đây là một khởi đầu rất thuận lợi, giúp giảm đáng kể gánh nặng chứng minh và xác suất hậu kiểm. Nhưng lưu ý, xếp hạng quốc gia không thay thế nghĩa vụ của từng lô hàng. Lợi thế ở cấp quốc gia chỉ trở thành lợi thế cạnh tranh thực sự khi được chuyển hóa thành hồ sơ cụ thể, dữ liệu cụ thể của từng doanh nghiệp. Ngược lại, nếu chủ quan, chúng ta hoàn toàn có thể đánh mất lợi thế mà mình đang có”, ông Tuấn bày tỏ.

Cùng với các vấn đề nêu trên, lưu ý về hai thái cực nhận thức ghi nhận được từ thực tiễn. Một bên cho rằng quy định còn xa, hoặc nếu không xuất khẩu được sang EU thì chuyển hướng thị trường khác. Một bên lại chuẩn bị vượt quá yêu cầu, làm phát sinh chi phí không cần thiết vì không phân biệt được đâu là nghĩa vụ bắt buộc của EUDR, đâu là yêu cầu bổ sung của khách hàng hoặc của các chứng nhận bền vững tự nguyện, ông Tuấn cho rằng, cả hai thái cực đều tốn kém. Hiểu đúng và làm đúng mức luôn là phương án hiệu quả nhất về chi phí.

Từ đó, ông Tuấn kỳ vọng, hội thảo sẽ không chỉ đem đến hiểu biết về một quy định mới, mà còn đem đến câu trả lời rõ ràng cho bốn câu hỏi rất thực tế: sản phẩm của tôi có thuộc phạm vi điều chỉnh hay không, tôi phải chuẩn bị những dữ liệu và bằng chứng gì, tôi phải phối hợp với nhà cung cấp và khách hàng EU như thế nào, và đâu là giới hạn của những gì bắt buộc phải làm.

“Mỗi lần thị trường nâng chuẩn là một lần doanh nghiệp Việt Nam đứng trước lựa chọn, hoặc rút lui về những phân khúc dễ tính hơn, hoặc vươn lên để ở lại những thị trường khó tính nhất. Kinh nghiệm nhiều năm qua cho thấy, mỗi lần chúng ta chọn vươn lên, vị thế của hàng hóa Việt Nam lại được nâng lên một bậc. EUDR, vì vậy, nên được nhìn nhận không chỉ như một nghĩa vụ tuân thủ, mà như một cơ hội để minh bạch hóa và chuẩn hóa những chuỗi cung ứng quan trọng bậc nhất của nền nông nghiệp và công nghiệp chế biến Việt Nam”, ông Tuấn bày tỏ.

Bài & Ảnh: Gia Nguyễn