Chặng đường mới trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Vương quốc Anh
Để đưa thương mại song phương Việt Nam – Vương quốc Anh vượt mốc khoảng 10 tỷ bảng Anh hiện nay, chặng tăng trưởng tiếp theo sẽ phụ thuộc vào việc mở rộng hợp tác trong lĩnh vực công nghệ, tài chính, hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực.

Đó là chia sẻ của ông Joshua Ashworth, Trưởng bộ phận Thương mại và Đầu tư, Đại sứ quán Vương quốc Anh tại Việt Nam, khi trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp.
- Việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện mở ra những cơ hội kinh tế gì? Ông kỳ vọng quan hệ thương mại Việt Nam – Vương quốc Anh sẽ phát triển như thế nào đến năm 2030?
Việc nâng cấp quan hệ Việt Nam – Vương quốc Anh lên Đối tác Chiến lược Toàn diện tạo ra một khuôn khổ rất quan trọng để phát triển hợp tác kinh tế trong thập kỷ tới. Với cá nhân tôi, mục tiêu rõ ràng là đưa quan hệ thương mại Việt Nam – Vương quốc Anh vượt quy mô hiện tại, khoảng 10 tỷ bảng Anh.
Để làm được điều đó, chúng ta phải tận dụng đầy đủ các khuôn khổ thương mại hiện có, đặc biệt là các hiệp định UKVFTA và CPTPP, đồng thời xử lý những rào cản phi thuế quan phát sinh.
Nhìn từ chiến lược công nghiệp của Anh và các mục tiêu phát triển của Việt Nam, tôi thấy bốn lĩnh vực hợp tác chính.
Thứ nhất, khai thác tốt hơn UKVFTA và CPTPP để tăng thương mại hai chiều và giúp doanh nghiệp hai nước tiếp cận thị trường mới.
Thứ hai, mở rộng hợp tác trong những ngành tăng trưởng mà Vương quốc Anh có thế mạnh. Với kinh nghiệm trước đây của tôi trong lĩnh vực giao thông và thu hút đầu tư, tôi cho rằng sản xuất tiên tiến và hạ tầng là hai lĩnh vực đặc biệt tiềm năng. Chúng ta đã có những ví dụ đáng chú ý về hợp tác trong hàng không. Tôi muốn mở rộng điều này sang năng lượng sạch, công nghệ số, khoa học sự sống, dịch vụ tài chính và các ngành công nghiệp sáng tạo.
Thứ ba, hỗ trợ tham vọng của Việt Nam trở thành một trung tâm khu vực về đổi mới sáng tạo, sản xuất giá trị cao và tài chính quốc tế. Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp cho thấy tiềm năng của Việt Nam đang ngày càng được quốc tế ghi nhận.
Điều quan trọng tiếp theo là biến tiềm năng đó thành năng lực đổi mới và sản xuất thực tế, qua đó giúp Việt Nam tham gia vào những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị, thay vì chỉ thực hiện những công đoạn sản xuất ban đầu, rồi hoàn thiện sản phẩm ở nơi khác.
Thứ tư, tăng cường kết nối giữa con người với con người thông qua giáo dục, nghiên cứu và phát triển, hợp tác kỹ năng và các chương trình như học bổng Chevening. Những mối liên hệ như vậy tạo nền tảng rất quan trọng cho quan hệ giữa hai nước.
Đến năm 2030, tôi kỳ vọng vào ba kết quả. Trước hết là quy mô thương mại và đầu tư lớn hơn. Thứ hai là một quan hệ kinh tế rộng hơn và có chiều sâu hơn, dựa nhiều hơn vào công nghệ, đổi mới sáng tạo và sự thịnh vượng chung. Thứ ba là sự kết nối tốt hơn giữa người dân hai nước, với những kỹ năng cần thiết để tận dụng các cơ hội kinh tế xuyên biên giới.
- Ngoài những lĩnh vực hai nước đang hợp tác, những lĩnh vực mới nổi nào có thể định hình quan hệ kinh tế Việt Nam – Vương quốc Anh, thưa ông?
Đổi mới sáng tạo sẽ ngày càng định hình quan hệ kinh tế giữa hai nước. Chúng ta đã làm rất tốt để đưa thương mại song phương lên khoảng 10 tỷ bảng Anh. Nhưng để đi xa hơn, cần một cách tiếp cận mới, xác định những vấn đề thực tế, những cơ hội mới và cách hai bên có thể cùng giải quyết chúng.
Trí tuệ nhân tạo (AI) là một lĩnh vực rõ ràng. Fintech cũng rất quan trọng. Các lĩnh vực khác gồm an ninh mạng, bán dẫn, thương mại số và sản xuất tiên tiến. Việt Nam có những doanh nghiệp như FPT và CMC đang phát triển nhanh trong lĩnh vực công nghệ, trong khi Vương quốc Anh có những công ty như Arm và Pragmatic Semiconductor.
Vương quốc Anh có thế mạnh về nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ. Việt Nam lại có một nền kinh tế số phát triển nhanh cùng lực lượng lao động trẻ và có năng lực. Hai yếu tố này có tính bổ trợ rất lớn.

Tuy nhiên, nền tảng của tất cả những lĩnh vực đó vẫn là kỹ năng. Vương quốc Anh hiện là một trong những đối tác lớn của Việt Nam về giáo dục xuyên quốc gia. Các tổ chức của Vương quốc Anh cũng đang cung cấp nhiều chương trình đào tạo trong kế toán, giáo dục và những lĩnh vực chuyên môn khác.
Nếu có thể kết nối doanh nghiệp, nhà nghiên cứu, trường đại học và nhà đầu tư, chúng ta có thể xây dựng nền tảng hợp tác kéo dài nhiều năm. Hai bên đã có mong muốn hợp tác và có những năng lực bổ trợ. Việc tiếp theo là bảo đảm thế hệ lao động mới có những kỹ năng phù hợp để đưa quan hệ này tiến xa hơn vào năm 2030, 2035 và 2040.
- VCCI là tổ chức đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Ông kỳ vọng hai bên có thể hợp tác như thế nào trong thời gian tới?
Không ai hiểu doanh nghiệp Việt Nam tốt hơn chính cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Các tổ chức như VCCI có thông tin và hiểu biết về thị trường mà chúng tôi cần lắng nghe. Tôi cho rằng lúc này là thời điểm rất thuận lợi để tăng cường quan hệ giữa Vương quốc Anh và Việt Nam, cũng như giữa doanh nghiệp hai nước.
Chúng ta có các hiệp định thương mại đầy tham vọng, quan hệ đầu tư ngày càng mở rộng, hợp tác giáo dục phát triển và khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Chúng ta cũng có sự hỗ trợ của Đại sứ quán Vương quốc Anh tại Hà Nội, Tổng Lãnh sự quán Vương quốc Anh tại TP HCM, Bộ Công Thương và chính quyền các địa phương.
Điều gây ấn tượng với tôi nhất từ khi tới Việt Nam là sự tự tin vào tương lai. Từ các doanh nghiệp lớn đến startup và doanh nhân trẻ, đều có mong muốn đổi mới, cạnh tranh, thành công và xây dựng vị thế trên thị trường quốc tế.
Các sản phẩm Việt Nam như cà phê, hạt điều, hải sản, hồ tiêu và trái cây tươi ngày càng xuất hiện nhiều hơn tại các cửa hàng ở Vương quốc Anh. Người tiêu dùng nhìn thấy một sản phẩm Việt Nam và bắt đầu quan tâm hơn đến đất nước tạo ra sản phẩm đó.
- Trân trọng cảm ơn ông!
Trường Đặng thực hiện