Thuế đất phi nông nghiệp: Cần đồng bộ dữ liệu, minh bạch thông báo
Những vướng mắc trong tra cứu, thông báo thuế đất phi nông nghiệp đang đặt ra yêu cầu đồng bộ dữ liệu, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ…
Một khoản thuế chỉ vài trăm nghìn đồng nhưng người nộp không rõ phát sinh từ năm nào, vì sao bị tính tiền chậm nộp. Có trường hợp muốn hoàn thành nghĩa vụ nhưng thông tin chưa hiển thị trên hệ thống, phải liên hệ cơ quan thuế để đối chiếu, bổ sung.
Những vướng mắc tưởng chừng nhỏ này đang cho thấy sự cần thiết phải nâng cao chất lượng dữ liệu và việc thông báo thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
.jpg)
Tại TP HCM, có người “phát hoảng” trước nguy cơ bị tạm hoãn xuất cảnh khi bỗng nhiên nhận được thông báo có khoản nợ thuế 227.700 đồng cùng tiền phạt, tiền chậm nộp. Một trường hợp khác nhận thông báo gần 360.000 đồng tiền thuế của hai năm 2025 và 2026, nhưng khi đến ngân hàng nộp tiền lại không thể tra cứu được thông tin. Cuối cùng, đành phải chờ đến sau khi dữ liệu được cập nhật, người này mới có thể hoàn thành việc nộp thuế.
Số tiền không lớn, nhưng điều khiến người nộp thuế băn khoăn là vì sao nghĩa vụ đã phát sinh lại chưa được thông tin đầy đủ, hoặc phải mất thêm thời gian mới có thể thực hiện. Khi những khoản thuế tồn đọng qua nhiều kỳ, việc xác định thời điểm phát sinh, căn cứ tính thuế và tiền chậm nộp càng cần được làm rõ.
Theo các chuyên gia pháp lý, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là nghĩa vụ đã được pháp luật quy định từ lâu. Theo Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, đất ở tại nông thôn, đô thị và một số loại đất sản xuất, kinh doanh thuộc diện chịu thuế. Người nộp thuế có trách nhiệm kê khai, thực hiện nghĩa vụ theo quy định, đồng thời cần chủ động theo dõi thông tin liên quan đến thửa đất của mình.
Song, để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, người nộp thuế cần được cung cấp thông tin chính xác, kịp thời. Nếu không rõ số tiền phải nộp, kỳ tính thuế hoặc tình trạng thanh toán, họ có thể phải đi lại, bổ sung hồ sơ, thậm chí mất thêm thời gian giải trình những khoản thuế đã thực hiện.
Đáng chú ý, vấn đề này không chỉ liên quan đến hộ gia đình, cá nhân mà còn có ý nghĩa đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Theo quy định, đất xây dựng khu công nghiệp, đất làm mặt bằng cơ sở sản xuất, kinh doanh, đất khai thác, chế biến khoáng sản và một số loại đất phi nông nghiệp sử dụng vào mục đích kinh doanh thuộc diện chịu thuế. Tùy từng trường hợp, doanh nghiệp có thể là chủ thể thực hiện nghĩa vụ thuế đối với diện tích đất đang sử dụng.
Với doanh nghiệp, việc xác định chính xác nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai là yêu cầu quan trọng trong công tác kế toán, quản trị chi phí và tuân thủ pháp luật. Nếu thông tin thửa đất chưa được cập nhật, khoản thuế đã nộp chưa được ghi nhận hoặc dữ liệu giữa các cơ quan chưa thống nhất, doanh nghiệp có thể phải dành thêm thời gian đối chiếu chứng từ, giải trình và hoàn tất thủ tục.

Trao đổi về vấn đề này, Luật sư Nguyễn Đức Biên – Giám đốc Công ty Luật TNHH Đại La cho rằng, trách nhiệm kê khai, nộp thuế đúng thời hạn thuộc về người nộp thuế. Cùng với đó, cơ quan quản lý phải bảo đảm việc xác định, thông báo và ghi nhận nghĩa vụ được thực hiện theo quy định. Khi phát sinh sai lệch, cần có cơ chế đối chiếu, giải quyết kịp thời để tránh kéo dài những khoản nợ không phản ánh đúng thực tế.
Đối với tiền chậm nộp, việc xác định phải căn cứ vào thời hạn thực hiện nghĩa vụ và tình trạng nộp thuế thực tế. Nếu người nộp thuế đã hoàn thành nghĩa vụ nhưng dữ liệu chưa được cập nhật, cần kiểm tra chứng từ để điều chỉnh. Trường hợp chưa nộp đúng hạn, việc tính tiền chậm nộp phải tuân thủ quy định pháp luật và các trường hợp ngoại lệ được pháp luật cho phép.
Luật sư Biên cho rằng, khi phát sinh chênh lệch về nghĩa vụ thuế, việc đối chiếu cần được thực hiện kịp thời, trên cơ sở hồ sơ và chứng từ cụ thể. Đặc biệt, những khoản thuế đã được người dân, doanh nghiệp hoàn thành phải được ghi nhận đầy đủ, tránh tình trạng người nộp thuế tiếp tục phải giải trình hoặc mất thời gian chứng minh một nghĩa vụ đã thực hiện.
“Dữ liệu thuế phải phản ánh đúng tình trạng thực hiện nghĩa vụ của người nộp thuế. Nếu thông tin chưa chính xác, cơ quan quản lý cần chủ động rà soát, điều chỉnh và thông báo kết quả rõ ràng. Không nên để người dân, doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần chỉ để làm rõ một khoản thuế đã nộp”, Luật sư Biên phân tích.
Một vấn đề khác cần được quan tâm là sự liên thông giữa dữ liệu đất đai và dữ liệu thuế. Thông tin về người sử dụng đất, diện tích, mục đích sử dụng, địa chỉ liên hệ và những biến động liên quan cần được cập nhật kịp thời để bảo đảm việc xác định nghĩa vụ chính xác.
Đối với doanh nghiệp, những thay đổi về quyền sử dụng đất, chuyển nhượng tài sản hoặc điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh có thể kéo theo việc cập nhật hồ sơ và xác định lại nghĩa vụ tài chính. Nếu dữ liệu giữa các cơ quan chưa đồng bộ, quá trình đối chiếu có thể phát sinh thêm thủ tục, ảnh hưởng đến thời gian và chi phí tuân thủ.
Theo Luật sư Biên, cơ quan thuế cần tăng cường phối hợp với cơ quan quản lý đất đai và chính quyền địa phương trong việc rà soát, chuẩn hóa dữ liệu. Thông tin nghĩa vụ thuế nên được thể hiện rõ theo từng thửa đất, từng kỳ tính thuế, bao gồm số tiền phải nộp, số đã nộp, khoản còn thiếu và tiền chậm nộp nếu có.
Đồng thời, việc chuyển đổi phương thức thu và triển khai ứng dụng điện tử phải đi cùng hướng dẫn cụ thể, bảo đảm người nộp thuế dễ dàng tra cứu, thực hiện nghĩa vụ và phản ánh những thông tin chưa chính xác. Khi có chênh lệch, cần xác định rõ đầu mối tiếp nhận, trách nhiệm giải quyết và thời hạn phản hồi.
“Thu đúng, thu đủ là yêu cầu cần thiết để bảo đảm kỷ cương pháp luật và nguồn thu ngân sách. Nhưng cùng với đó, người dân và doanh nghiệp phải được cung cấp thông tin rõ ràng, chính xác, kịp thời. Khi dữ liệu được đồng bộ, thông báo minh bạch và những sai lệch được xử lý nhanh chóng, người nộp thuế sẽ chủ động hơn trong thực hiện nghĩa vụ, đồng thời giảm thời gian, chi phí tuân thủ. Đây cũng là một trong những yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý thuế và cải thiện môi trường kinh doanh”, Luật sư Biên nhấn mạnh.
Nguyễn Giang