diendandoanhnghiep.vn

Nghiên cứu - Trao đổi

Mở lối tiếp cận vốn bằng dòng tiền và dữ liệu

Yến Nhung thực hiện

Chuyển từ cho vay dựa trên tài sản thế chấp sang đánh giá dòng tiền, dữ liệu đòi hỏi phải có cơ chế bảo lãnh tín dụng hiệu quả và hành lang pháp lý đủ rõ để ngân hàng mạnh dạn chia sẻ rủi ro.

Đây là chia sẻ của TS Châu Đình Linh, Chuyên gia tài chính - ngân hàng, giảng viên Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh với Diễn đàn Doanh nghiệp.

chau dinh linh2 (1)
TS Châu Đình Linh, Chuyên gia tài chính - ngân hàng, giảng viên Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh

Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Dự thảo) đã có những định hướng đổi mới tiếp cận tín dụng. Ông đánh giá thế nào về các quy định này, đặc biệt là cơ chế bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp?

Theo tôi, cơ chế bảo lãnh tín dụng là cần thiết và cần được tiếp tục duy trì trong Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), nhưng cách thiết kế, vận hành hiện nay chưa hiệu quả. DNNVV chiếm khoảng 98,4% tổng số doanh nghiệp nhưng chỉ tiếp cận khoảng 19-20% dư nợ tín dụng. Trong khi đó, một đại biểu Quốc hội cho biết sau 25 năm hoạt động, các quỹ bảo lãnh được cấp khoảng 1.450 tỷ đồng nhưng dư nợ bảo lãnh chỉ đạt 133 tỷ đồng. Điều này cho thấy nguồn lực chưa được phát huy đúng vai trò là công cụ chia sẻ rủi ro, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn.

Nguyên nhân cốt lõi nằm ở cơ chế hoạt động. Bản chất của bảo lãnh tín dụng là chấp nhận và chia sẻ rủi ro với ngân hàng, nhưng các quỹ hiện nay lại phải bảo toàn vốn, chưa có quy định rõ về tỷ lệ rủi ro được phép chấp nhận. Thậm chí, quỹ vẫn yêu cầu doanh nghiệp có tài sản bảo đảm. Như vậy, doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp – nhóm cần được hỗ trợ nhất – lại khó tiếp cận chính sách bảo lãnh.

Vì vậy, tôi cho rằng có thể xem xét sắp xếp, sáp nhập hoặc giải thể những quỹ hoạt động kém hiệu quả, nhưng không nên vì thế mà bỏ đi chức năng bảo lãnh, tái bảo lãnh và chia sẻ rủi ro của Nhà nước. Đây là công cụ cần thiết để khơi thông dòng vốn cho DNNVV.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ cho vay dựa trên tài sản thế chấp sang cho vay dựa trên dòng tiền và dữ liệu. Đây là hướng đi đúng, nhưng cần nhìn nhận rằng khi không có tài sản bảo đảm, rủi ro của ngân hàng sẽ cao hơn. Nếu không có cơ chế bảo lãnh để chia sẻ phần rủi ro này, ngân hàng sẽ khó mạnh dạn cho vay, dù doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi. Vì vậy, vấn đề không phải là giữ nguyên các quỹ đang hoạt động kém hiệu quả, mà là phải thiết kế lại cơ chế để bảo lãnh tín dụng thực sự trở thành công cụ hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn.

5.jpg
Cơ chế bảo lãnh tín dụng là cần thiết và cần được tiếp tục duy trì trong Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng cách thiết kế, vận hành hiện nay chưa hiệu quả. Ảnh minh họa

Vì sao doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh và dòng tiền nhưng vẫn khó tiếp cận tín dụng nếu thiếu tài sản bảo đảm, thưa ông?

Tài sản bảo đảm hiện nay đang đảm nhận cùng lúc ba vai trò: giúp ngân hàng giảm tổn thất khi khách hàng không trả được nợ, thể hiện cam kết của chủ doanh nghiệp và tạo cơ sở pháp lý để cán bộ tín dụng yên tâm phê duyệt khoản vay. Vì vậy, muốn chuyển sang cho vay dựa trên dòng tiền, cần có công cụ thay thế được cả ba vai trò này.

Thứ nhất là vấn đề minh bạch thông tin. Nhiều doanh nghiệp có cơ hội kinh doanh nhưng hệ thống kế toán, báo cáo tài chính chưa minh bạch, dòng tiền chưa được phản ánh đầy đủ. Ngân hàng không thể cho vay chỉ dựa trên số liệu doanh nghiệp tự báo cáo mà cần dữ liệu đủ tin cậy để kiểm chứng.

Thứ hai là chi phí thẩm định. Một khoản vay nhỏ vẫn tiêu tốn nhiều thời gian, nhân lực thẩm định và giám sát tương tự khoản vay lớn. Trong khi đó, tài sản thế chấp giúp ngân hàng có thêm cơ sở đánh giá và kiểm soát rủi ro với chi phí thấp hơn.

Thứ ba là hành lang pháp lý. Các quy định về định giá, giao dịch bảo đảm, xử lý tài sản và thu hồi nợ đối với hình thức cho vay dựa trên dòng tiền, dữ liệu, tài sản vô hình vẫn cần được làm rõ. Khi chưa có cơ sở pháp lý đủ chắc chắn, cán bộ tín dụng thường lựa chọn phương án an toàn là yêu cầu tài sản thế chấp.

Cuối cùng là đặc thù của DNNVV. Có dòng tiền không đồng nghĩa với dòng tiền ổn định. Doanh thu có thể biến động theo mùa vụ, phụ thuộc vào một vài khách hàng lớn hoặc vòng quay vốn thiếu ổn định. Vì vậy, ngân hàng vẫn phải đánh giá khả năng trả nợ và mức độ rủi ro thực tế.

Tôi đồng tình với quan điểm không hạ chuẩn tín dụng, nhưng cần thay đổi phương pháp đánh giá để phù hợp hơn với thực tiễn doanh nghiệp. Cho vay dựa trên dòng tiền không có nghĩa là nới lỏng điều kiện tín dụng, mà là sử dụng công cụ khác để nhận diện và kiểm soát rủi ro. Nếu không giải quyết được những điểm nghẽn này, doanh nghiệp sẽ tiếp tục mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn: thiếu vốn nên khó mở rộng sản xuất, kinh doanh; dòng tiền yếu lại khiến ngân hàng càng e ngại cho vay.

Theo ông, Dự thảo cần quy định như thế nào để thúc đẩy chia sẻ dữ liệu phục vụ thẩm định tín dụng, đồng thời bảo vệ bí mật kinh doanh và dữ liệu của doanh nghiệp?

Theo tôi, Dự thảo cần làm rõ quyền của doanh nghiệp đối với dữ liệu của chính mình, đồng thời thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu an toàn, có kiểm soát. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 đã có quy định về sự đồng ý khi sử dụng dữ liệu cá nhân để chấm điểm tín dụng. Tuy nhiên, dữ liệu của hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ vừa gắn với thông tin cá nhân của chủ hộ, vừa chứa bí mật kinh doanh. Đây là khoảng trống cần được bổ sung.

Trước hết, cần quy định doanh nghiệp có quyền yêu cầu cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký kinh doanh chuyển dữ liệu của mình cho tổ chức tín dụng do doanh nghiệp lựa chọn, thông qua nền tảng chính thức và trong thời hạn cụ thể. Việc chia sẻ phải dựa trên sự đồng ý rõ ràng, theo từng mục đích, bên tiếp nhận và có thể rút lại. Doanh nghiệp cũng cần được biết ai đã truy cập dữ liệu của mình.

Bên cạnh đó, luật cần quy định chỉ chia sẻ những thông tin thực sự cần thiết cho thẩm định tín dụng, nghiêm cấm sử dụng dữ liệu sai mục đích hoặc chuyển cho bên thứ ba khi chưa được đồng ý. Đồng thời, phải có cơ chế giám sát truy cập, thông báo khi xảy ra lộ lọt dữ liệu và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Có thể khuyến khích kết nối dữ liệu từ các nền tảng hóa đơn điện tử, kế toán, doanh thu, công nợ để hỗ trợ ngân hàng đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp.

Ngoài ra, nên nghiên cứu thí điểm cho vay không hoặc ít tài sản bảo đảm dựa trên dữ liệu, nhưng vẫn bảo đảm ngân hàng độc lập trong quyết định tín dụng. Đặc biệt, cần hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh chuẩn hóa kế toán, sử dụng phần mềm quản lý, hóa đơn điện tử. Bởi dữ liệu chỉ thực sự có giá trị khi chính xác, minh bạch và đủ tin cậy để ngân hàng sử dụng trong thẩm định.

Trân trọng cảm ơn ông!

Yến Nhung thực hiện